
Doanh thu thấp
Thực tế hiện nay, các đơn vị công lập vừa mang tính chất đơn vị văn hóa, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị – xã hội và sứ mệnh bảo tồn di sản phi vật thể của dân tộc. Hoạt động của các đơn vị sân khấu mang tính phi lợi nhuận, lượng khán giả hạn chế, chi phí dàn dựng cao và khó thương mại hóa khiến sân khấu không thể vận hành hoàn toàn theo logic thị trường.
Theo nhà lý luận phê bình sân khấu, TS Cao Ngọc, chi phí đầu tư cho một vở Tuồng, Chèo hoặc Cải lương thường xuyên vượt xa khả năng thu hồi từ bán vé. Những yếu tố như phục trang thủ công, hóa trang cầu kỳ, dàn nhạc sống trực tiếp tại đêm diễn, cảnh trí truyền thống hay các đêm tập luyện kéo dài khiến quy trình dàn dựng có kinh phí cao hơn nhiều so với các loại hình hiện đại. Trong khi đó, giá vé trung bình từ 150 nghìn đến 300 nghìn đồng lại không thể nâng cao vì đặc điểm kinh tế – xã hội của nhóm khán giả mục tiêu. Bên cạnh đó, phần lớn các đơn vị duy trì biên chế có nhiều nhân sự không còn sức sáng tạo, trong khi thị trường biểu diễn ngày càng thu hẹp, tạo áp lực lớn về tài chính và nhân sự.
Số liệu thông kê gần đây cho thấy, các đơn vị nằm trong Nhà hát sân khấu truyền thống Việt Nam như Nhà hát Tuồng mỗi năm chỉ thu được khoảng 15–18% chi phí hoạt động từ nguồn bán vé, buộc phải trông cậy ngân sách nhà nước cho phần lớn chương trình. Tương tự Nhà hát Chèo dù đã mạnh dạn xã hội hóa một số vở diễn như “Quan Âm Thị Kính” hay “Xúy Vân” nhưng kết quả tài chính vẫn chưa đạt mức tự cân đối. Tại TPHCM, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang dù năng động hơn trong tiếp cận khán giả và hợp tác doanh nghiệp để xã hội hóa một phần, nhưng doanh thu 1–2 tỷ đồng/năm chỉ tương đương chi phí dựng một vở tầm trung. Ở khối kịch nói, Nhà hát Kịch Việt Nam và Nhà hát Tuổi Trẻ có thị trường rộng hơn song vẫn phụ thuộc ngân sách cho các nhiệm vụ chính trị và chương trình phục vụ cộng đồng. Những dữ liệu trên cho thấy tự chủ, dù là chủ trương đúng đắn, cần phải có sự điều chỉnh phù hợp với bản chất của nghệ thuật sân khấu.
Cân bằng cung và cầu
Thực trạng triển khai tự chủ tại các đơn vị nghệ thuật sân khấu trong những năm qua phản ánh một bức tranh đa chiều. Ở chiều tích cực, nhiều đơn vị đã chủ động hơn trong công tác tổ chức, dàn dựng và tiếp cận công chúng. Việc xây dựng các chương trình biểu diễn định kỳ như Tuồng phục vụ du khách, “Chèo làng – Chèo phố”, “Sân khấu học đường” hay các tour diễn lưu động cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy hoạt động. Các nhà hát cũng tinh giản tổ chức, ký hợp đồng theo dự án, thuê đạo diễn và chuyên gia bên ngoài, góp phần nâng cao chất lượng sáng tạo. Một số đơn vị tiếp cận tốt mạng xã hội, livestream một phần buổi diễn để khơi gợi sự chú ý, hoặc đưa hậu trường nghệ thuật lên nền tảng số. Hay như Nhà hát Tuổi trẻ triển khai nhiều kênh bán vé trực tuyến khá hấp dẫn với ưu đãi, chứng minh công tác tuyên truyền và thu hút khán giả trẻ nhiều hơn. Tuy nhiên, những khó khăn và rào cản vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Theo báo cáo Bộ VHTTDL, khoảng 90% đơn vị nghệ thuật công lập không có khả năng thu đủ bù chi, trong đó 60% không đạt mức tự bảo đảm 20% chi phí thường xuyên. Cơ chế tài chính hiện hành chưa phù hợp với đặc thù nghệ thuật: định mức chi thấp hơn nhiều so với thực tế thị trường, các thủ tục phê duyệt – thanh quyết toán phức tạp gây cản trở tiến độ dàn dựng và sáng tạo.
TS Cao Ngọc nhìn nhận, việc áp dụng cơ chế tự chủ cho lĩnh vực sân khấu cần đi kèm một cơ chế đặc thù, phản ánh đúng bản chất phi lợi nhuận và nhiệm vụ chính trị – xã hội của các loại hình nghệ thuật. Mô hình “tự chủ theo nhiệm vụ” nên được coi là định hướng phù hợp hơn cơ chế tự chủ toàn phần. Theo đó, Nhà nước đặt hàng dài hạn (3–5 năm) cho các nhiệm vụ bảo tồn, truyền dạy, phổ biến nghệ thuật và phục vụ chính trị; phần còn lại, đơn vị được chủ động trong hoạt động thị trường và khai thác nguồn thu hợp pháp.
Cũng theo TS Cao Ngọc, cần điều chỉnh các định mức chi cho phục trang, đạo cụ, nhạc công sống và chi phí dàn dựng để tiệm cận giá thành thực tế, tránh tình trạng đơn vị khó hoàn thành nhiệm vụ vì hụt chi phí. Bên cạnh đó, thủ tục phê duyệt – thanh quyết toán cần tinh giản, nhằm tạo sự linh hoạt cần thiết cho hoạt động sáng tạo, vốn thường có tính đặc thù và thay đổi theo quá trình dựng vở. “Cũng cần có chính sách miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp có tài trợ cho nghệ thuật, kích thích sự hợp tác giữa doanh nghiệp và các đơn vị để có nguồn tài chính hoạt động. Đây là việc làm nhiều nước đã áp dụng thành công” - TS Cao Ngọc nêu quan điểm.
Trong bối cảnh đặc thù của nghệ thuật sân khấu Việt Nam, cơ chế tự chủ chỉ có thể phát huy hiệu quả theo hướng linh hoạt, có phân tầng nhiệm vụ và bảo đảm sự bảo trợ cần thiết đối với các loại hình nghệ thuật mang tính di sản và phi lợi nhuận. Sự kết hợp hài hòa giữa vai trò định hướng, hỗ trợ của Nhà nước và quyền chủ động sáng tạo của các đơn vị nghệ thuật không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, mà còn tạo nền tảng cho việc bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị văn hóa dân tộc trong đời sống đương đại.
Vân Anh
bình luận (0)