
Học sinh tham gia Ngày hội STEM Trường THPT Chuyên Bắc Giang (Bắc Giang). Ảnh: NTCC
Điều này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong định hướng nghề nghiệp của thế hệ trẻ mà còn đặt ra nỗi lo lớn về nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật – những ngành đóng vai trò then chốt trong sự phát triển bền vững của đất nước.
Tâm lý “chọn an toàn”
Tại hội thảo Giáo dục STEM - định hướng đào tạo nhân lực từ trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức mới đây, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông Thái Văn Tài thông tin, hiện nay, có khoảng 60 - 65% học sinh phổ thônglựa chọn tổ hợp KHXH, nguồn nhân lực chất lượng cao khối ngành khoa học, kỹ thuật luôn thiếu.
Từ biểu đồ thống kê tỷ lệ đăng ký môn thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2020 – 2025 do Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra cho thấy, trong giai đoạn 2020 – 2024, học sinh nghiêng về KHXH với tỷ lệ dao động quanh mức 55%, trong khi KHTN ở mức trên 30%. Đến năm 2025, lứa học sinh đầu tiên thi theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, sự chênh lệch này càng rõ nét khi Lịch sử và Địa lý dẫn đầu với tỷ lệ chọn lần lượt là 42,4% và 41,8%. Ở chiều ngược lại, Vật lý chỉ còn 30,4%, Hóa học 21,2%, và Sinh học rơi xuống đáy vực với vỏn vẹn 6,2%. Các môn mang tính ứng dụng thời đại như Tin học hay Công nghệ thậm chí chưa chạm tới mốc 1%.
TS Đặng Văn Sơn - chuyên gia giáo dục STEM (Đại học Quốc gia Hà Nội) lý giải thực trạng này là do học sinh đang lựa chọn phương án an toàn. KHTN đòi hỏi nền tảng tư duy logic, tính toán phức tạp và sự tích lũy dài hạn. Trong khi đó, các môn KHXH, dẫu cần sự am hiểu, lại dễ dàng giúp các em đạt điểm “an toàn” để xét tốt nghiệp nhờ phương pháp thi trắc nghiệm.
Chuyên gia này cũng cho rằng sự mất cân bằng này có một phần nguyên nhân từ chính cấu trúc của Chương trình GDPT 2018 khi Lịch sử trở thành môn học bắt buộc ở bậc THPT, học sinh đã dành thời gian học và ôn tập môn Lịch sử trên lớp nên các em có xu hướng chọn luôn Địa lý và Giáo dục Kinh tế và Pháp luật để tạo thành một tổ hợp KHXH trọn vẹn, đồng thời “bỏ rơi” hoàn toàn các môn Vật lý, Hóa học hay Sinh học để giảm tải áp lực bài vở.
Chia sẻ quan điểm này, thầy Vũ Khắc Ngọc, một giáo viên tại Hà Nội cho rằng một phần nguyên nhân đến văn hóa học tập tại Việt Nam là xu hướng “học để thi” – thi môn gì thì tập trung học môn đó. Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, đa số địa phương duy trì kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 với ba môn Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh. Chính cách tổ chức này đã vô hình trung tạo ra tâm lý học lệch, khi cả nhà trường, phụ huynh và học sinh đều dồn trọng tâm vào ba môn thi này, trong khi các môn khác, đặc biệt là KHTN, dần bị xem nhẹ.
Hệ quả là khi bước vào lớp 10 – thời điểm học sinh được lựa chọn tổ hợp môn – đa số tiếp tục “né” các môn KHTN và chuyển sang các tổ hợp KHXH với tâm lý dễ học, dễ đạt điểm cao. Lâu dần, điều này tạo ra những thế hệ học sinh thiếu hụt nền tảng kiến thức khoa học cơ bản.
Cần thay đổi cách dạy và học KHTN
Không chỉ thiếu hụt nguồn nhân lực, mất cân đối trong cơ cấu lao động, ở góc độ đời sống cá nhân, việc thiếu hiểu biết khoa học cũng khiến nhiều người dễ bị dẫn dắt bởi thông tin sai lệch, đặc biệt trên các nền tảng mạng xã hội; từ những quan niệm sai lầm về sức khỏe, dinh dưỡng cho đến việc thiếu kỹ năng xử lý các vấn đề kỹ thuật cơ bản trong sinh hoạt hàng ngày.
Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần điều chỉnh cách tiếp cận trong giáo dục và định hướng học tập. Việc thi cử không nên là yếu tố duy nhất quyết định nội dung và phương pháp học. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của phụ huynh và học sinh về vai trò thiết yếu của KHTN, không chỉ trong học tập mà còn trong cuộc sống.
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định môn thi thứ ba trong kỳ tuyển sinh vào lớp 10 không được lặp lại quá ba năm liên tiếp được xem là một bước điều chỉnh đáng chú ý. Quy định này nhằm hạn chế tình trạng “học tủ”, học lệch theo dự đoán, buộc học sinh phải duy trì sự đầu tư tương đối đồng đều giữa các môn học, trong đó có các môn KHTN.
Để chính sách này phát huy hiệu quả, cần có sự triển khai đồng bộ. Nhà trường không nên chỉ dừng ở việc “chạy theo” môn thi, mà cần xây dựng kế hoạch dạy học cân bằng, đảm bảo tất cả các môn đều được giảng dạy đúng mức. Đồng thời, công tác truyền thông cũng cần làm rõ mục tiêu của sự thay đổi này, giúp phụ huynh và học sinh hiểu rằng đây không phải là sự “gây khó”, mà là một giải pháp nhằm hướng tới chất lượng học tập bền vững và lâu dài.
TS Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đề xuất, trong ngắn hạn phải rà soát ngay đề thi, ma trận đánh giá và cách xét tuyển đại học. Đề KHTN phải bớt đánh đố, bớt nặng mẹo kỹ thuật, tăng câu hỏi gắn với hiện tượng thực tiễn, tư duy khoa học và năng lực vận dụng. Xét tuyển đại học cũng phải phát tín hiệu rõ hơn với các ngành kỹ thuật, công nghệ, y sinh, nông nghiệp công nghệ cao, môi trường: học sinh có “nền” Lý, Hóa, Sinh tốt phải được nhìn thấy lợi thế công bằng và ổn định mà không cần phải quá chú trọng vào chứng chỉ quốc tế.
Về lâu dài, phải thiết kế lại việc dạy KHTN trong nhà trường: chương trình tinh gọn nhưng sâu hơn, cách dạy tăng thí nghiệm, dự án và giải quyết vấn đề, đánh giá chuyển từ ghi nhớ sang năng lực lập luận và thực hành khoa học. Cùng với đó là đầu tư bài bản cho phòng thí nghiệm, học liệu, giáo viên và chính sách khuyến khích người học theo đuổi STEM.
Thu Hương
bình luận (0)