Đây không chỉ là một sự kiện thường niên và cũng không phải chỉ là một loạt công trình được đâu tư cho giáo dục được thực hiện và khánh thành trong ngày khai giảng.
Cũng trong ngày này cách đây 81 năm lịch sử, ngày 5 tháng 9 năm 1945, chỉ ba ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng vừa được thành lập, đất nước phải đồng thời đối diện với nạn đói, nạn dốt, nguy cơ ngoại xâm và những nhiệm vụ cấp bách của việc xây dựng một nhà nước độc lập, việc Người dành một trong những thông điệp quan trọng đầu tiên cho thế hệ học sinh cho thấy giáo dục ngay từ đầu đã được đặt trong tầm nhìn kiến quốc, chứ không phải chỉ được xem như một lĩnh vực văn hóa - xã hội.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh có thể nhận diện một quan hệ mang tính nền tảng giữa độc lập dân tộc, phát triển con người và xây dựng năng lực quốc gia: một dân tộc chỉ có thể biến độc lập chính trị thành sức mạnh phát triển bền vững khi có khả năng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài và từng bước làm chủ tri thức, khoa học và công nghệ.
Sau hơn tám thập niên, điều kiện lịch sử đã thay đổi căn bản, song vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra vẫn còn nguyên giá trị và giá trị của “học tập” và “kiến thiết” đã được nâng lên một trình độ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các em học sinh. (Ảnh tư liệu)
Nếu năm 1945, nhiệm vụ trước mắt là xóa nạn mù chữ và xây dựng nền giáo dục của một quốc gia độc lập, thì trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh công nghệ, nhiệm vụ chiến lược là hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực khoa học - công nghệ và sức sáng tạo đủ mạnh để tạo ra năng lực nội sinh của đất nước.
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, cùng những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong năm 2025 và 2026, cho thấy giáo dục đang được đặt ngày càng trực tiếp vào chiến lược phát triển quốc gia.
Từ “công học tập của các em” đến yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, vấn đề giáo dục vì thế cần được nhận thức ở tầm chiến lược: đầu tư cho giáo dục là đầu tư vào con người; đầu tư vào con người là đầu tư vào lực lượng sản xuất và năng lực nội sinh; còn phát triển năng lực nội sinh chính là điều kiện để củng cố độc lập, tự chủ và nâng cao sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Ngược trở lại quá khứ, ngày 5 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời được ba ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường.
Nếu tách bức thư khỏi bối cảnh lịch sử, người đọc dễ xem đây là một văn bản giáo dục giàu tính nhân văn dành cho thế hệ trẻ; nhưng đặt nó vào toàn bộ cấu trúc của những ngày đầu chính quyền cách mạng, có thể thấy một tầng ý nghĩa rộng hơn nhiều, bởi ngay sau khi tuyên bố nền độc lập trước quốc dân và thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hướng sự quan tâm tới việc xây dựng những con người có khả năng tiếp tục kiến tạo đất nước độc lập ấy.
Trong thư, Người viết: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều.”
Đặt câu văn này cạnh Tuyên ngôn Độc lập đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 sẽ thấy rõ hơn tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn xác lập quyền độc lập của dân tộc; bức thư gửi học sinh đặt vấn đề làm thế nào để một dân tộc đã giành được độc lập có thể xây dựng một quốc gia đủ năng lực để phát triển. Độc lập vì thế không phải điểm kết thúc của cách mạng mà là tiền đề để thực hiện một nhiệm vụ lịch sử mới: xây dựng cơ đồ của một nước Việt Nam độc lập, trong đó con người phải trở thành chủ thể của quá trình kiến thiết.
Câu nói nổi tiếng của Người: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Có thể lý giải, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra ở đây là mối quan hệ giữa sự phát triển của con người với tương lai của dân tộc; học tập không chỉ đem lại lợi ích cho cá nhân người học mà còn tạo nên năng lực mà đất nước cần để chuyển hóa thành quả của cách mạng thành sức mạnh phát triển.
Trong nhận thức ấy, giáo dục đã được đặt vào chính giữa quá trình kiến quốc. Một quốc gia vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa không thể chỉ dựa vào sự thay đổi của thiết chế chính trị để khắc phục tình trạng yếu hèn do chế độ cũ để lại; muốn xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ và tiến bộ, phải đồng thời tạo dựng một nền tảng xã hội mới thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo con người và phát triển những năng lực mà chế độ thuộc địa từng kìm hãm.
Chính vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với học sinh về tương lai đất nước ngay trong những ngày đầu độc lập không phải là sự lựa chọn mang tính biểu tượng, mà là sự thể hiện nhất quán của một tư duy chiến lược về con người và kiến quốc.

Lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh cách đây 81 năm
Từ chống “giặc dốt” đến giải phóng năng lực con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không thể tách khỏi quan niệm của Người về giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Nếu chế độ thuộc địa làm cho một dân tộc bị áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế và hạn chế về tri thức, thì độc lập dân tộc phải tạo ra khả năng để nhân dân từng bước làm chủ đời sống của mình, mà một trong những điều kiện căn bản của quá trình ấy là tri thức.
Ngay trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chống nạn mù chữ là một nhiệm vụ cấp bách. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3 tháng 9 năm 1945, Người nêu vấn đề chống nạn mù chữ; ngày 8 tháng 9 năm 1945, Nhà nước ban hành các sắc lệnh quan trọng về Bình dân học vụ và xóa nạn mù chữ.
Đó là một phản ứng chính trị rất rõ trước thực trạng mà chế độ thuộc địa để lại: một quốc gia muốn độc lập về chính trị nhưng phần lớn nhân dân lại bị hạn chế về khả năng tiếp cận tri thức thì nền độc lập ấy chưa thể phát huy đầy đủ sức mạnh xã hội của mình.
Trong Lời kêu gọi chống nạn thất học, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.”⁴ Đây không chỉ là một nhận xét về tình trạng giáo dục mà còn là một luận điểm về sức mạnh quốc gia.
Cái “yếu” mà Người nói đến không đơn thuần là sự thiếu hụt kiến thức của từng cá nhân; đó là sự hạn chế năng lực của cả cộng đồng trong việc tổ chức sản xuất, tiếp nhận khoa học, thực hiện quyền làm chủ và tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế có một chiều sâu đặc biệt: Người không đặt giáo dục bên ngoài sự nghiệp cách mạng mà đặt giáo dục vào chính quá trình tạo dựng chủ thể của cách mạng và kiến thiết xã hội mới. Học để biết chữ, học để làm việc, học để làm người và học để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân không phải những mục tiêu tách rời mà là những phương diện khác nhau của một quan niệm thống nhất về phát triển con người.
“Công học tập” và sự chuyển hóa độc lập thành năng lực phát triển
Điểm đặc biệt trong lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 nằm ở cách Người gắn việc học tập của một thế hệ với tương lai của cả dân tộc. Khi nói “nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều”, Người không đặt trẻ em vào vị trí thụ động của những người thừa hưởng thành quả cách mạng, mà nhìn nhận họ như những chủ thể tương lai của công cuộc kiến thiết.
Đây chính là sự khác biệt giữa một quan niệm giáo dục thuần túy truyền đạt tri thức và một quan niệm giáo dục gắn với chiến lược phát triển quốc gia.
Trong quan niệm thứ nhất, học tập chủ yếu đem lại lợi ích cho cá nhân; trong quan niệm thứ hai, sự phát triển của mỗi cá nhân đồng thời làm gia tăng năng lực của cộng đồng. Khi một thế hệ có trình độ học vấn cao hơn, khả năng tiếp nhận khoa học và công nghệ tốt hơn, năng lực lao động và sáng tạo cao hơn, thì năng lực sản xuất và năng lực giải quyết các vấn đề xã hội của quốc gia cũng được nâng lên.
Đó là lý do câu nói “sánh vai với các cường quốc năm châu” không nên được hiểu đơn giản như một khát vọng mang tính tinh thần. “Sánh vai” trước hết là vấn đề năng lực. Muốn có vị thế tương xứng trong quan hệ quốc tế, một quốc gia phải có nền kinh tế có sức cạnh tranh, khoa học và công nghệ có năng lực sáng tạo, nguồn nhân lực có chất lượng, hệ thống quản trị hiệu quả và một nền văn hóa đủ sức tạo ra sự gắn kết xã hội. Tất cả những yếu tố ấy đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với chất lượng con người và giáo dục.
Bởi vậy, nếu đọc tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc độ phát triển quốc gia, có thể thấy một chuỗi quan hệ rất rõ: độc lập tạo ra điều kiện để dân tộc tự quyết định con đường phát triển; giáo dục tạo ra con người có năng lực thực hiện con đường ấy; tri thức và năng lực của con người tạo thành sức mạnh sản xuất và sức mạnh xã hội; còn sức mạnh ấy quyết định khả năng bảo vệ và phát triển nền độc lập trong thực tiễn.
Đây là lý do giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí vượt khỏi phạm vi ngành học.
Nó là một bộ phận của vấn đề tự chủ quốc gia.

Từ xóa mù chữ đến xây dựng xã hội tri tức. Ảnh minh họa: nguôn: dantri.com.vn
Từ xóa mù chữ đến xây dựng xã hội tri thức
Sau 81 năm, sư phát triển của đất nước đã làm thay đổi căn bản nội dung của nhiệm vụ giáo dục, nhưng không làm thay đổi logic nền tảng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra.
Năm 1945, “giặc dốt” trước hết là tình trạng mù chữ của đại bộ phận nhân dân; ngày nay, khi Việt Nam đã phổ cập giáo dục ở những trình độ cơ bản và có một hệ thống giáo dục với quy mô lớn, thách thức chuyển sang một cấp độ khác: làm thế nào để con người có khả năng tiếp nhận, sáng tạo và làm chủ tri thức của thời đại.
Sự chuyển biến này đặc biệt rõ trong bối cảnh khoa học - công nghệ, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất và đời sống xã hội. Nếu trước đây lợi thế của một quốc gia có thể dựa đáng kể vào tài nguyên thiên nhiên, vốn và lao động, thì trong nền kinh tế tri thức, lợi thế ngày càng chuyển sang khả năng tạo ra và sử dụng tri thức.
Những quốc gia có khả năng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, làm chủ công nghệ chiến lược và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo sẽ có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và có vị trí cao hơn trong cấu trúc kinh tế toàn cầu.
Trong điều kiện ấy, yêu cầu “nâng cao dân trí” phải được phát triển thành yêu cầu nâng cao năng lực tri thức của toàn xã hội.
“Học tập” không còn chỉ là khả năng đọc, viết và tiếp nhận kiến thức phổ thông mà phải bao gồm năng lực số, tư duy khoa học, ngoại ngữ, khả năng phân tích dữ liệu, tư duy phản biện, năng lực sáng tạo và khả năng học tập suốt đời. Đặc biệt, khi trí tuệ nhân tạo có khả năng thực hiện ngày càng nhiều thao tác vốn trước đây thuộc về con người, giáo dục càng phải chuyển trọng tâm từ truyền thụ thông tin sang phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, phán đoán và trách nhiệm xã hội.
Như vậy, “xóa mù chữ” của thời đại mới không chỉ là làm cho con người biết thêm nhiều kiến thức, mà là tạo ra khả năng để con người không bị tụt lại trước sự phát triển của tri thức và công nghệ.
Nếu năm 1945, một dân tộc không biết chữ là một dân tộc yếu, thì trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, một quốc gia không có khả năng làm chủ tri thức và công nghệ cũng khó có thể đạt tới mức độ tự chủ phát triển tương xứng với khát vọng của mình.

Ảnh khai giảng. nguồn TTXVVN
Tư duy của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về giáo dục và tương lai người học
Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá giáo dục và Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được nhìn trong một chỉnh thể, bởi giáo dục là nền tảng hình thành nguồn nhân lực có năng lực nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ công nghệ.
Vì vậy, đột phá giáo dục thực chất là đột phá vào năng lực con người, qua đó tạo dựng nguồn lực nội sinh và sức mạnh phát triển quốc gia, đồng thời tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giáo dục, con người và tương lai dân tộc.
Trong quá trình triển khai yêu cầu đột phá ấy, những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề giáo dục trong một tầm nhìn ngày càng trực tiếp hơn với tương lai con người và tương lai đất nước.
Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành Giáo dục và khai giảng năm học 2025-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đặc biệt, tại cuộc làm việc với ngành Giáo dục và Đào tạo về công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 15 tháng 6 năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một nguyên tắc có ý nghĩa đáng chú ý đối với hoạch định chính sách: “Mọi chính sách giáo dục phải được đo bằng sự tiến bộ, hạnh phúc và tương lai của người học.”
Điểm đáng chú ý ở đây là sự thay đổi về thước đo. Một chính sách giáo dục không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng trường lớp, tỷ lệ huy động học sinh, tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng văn bằng được cấp; những chỉ số đó cần thiết để quản trị hệ thống nhưng chưa đủ để đánh giá hiệu quả cuối cùng.
Thước đo sâu hơn phải nằm ở việc con người có thực sự phát triển năng lực hay không, có khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội hay không, có được tạo điều kiện để phát triển tài năng hay không và nền giáo dục có chuẩn bị cho họ một tương lai mà ở đó họ có thể lao động, sáng tạo và cống hiến hay không.

Ảnh minh họa: Báo QĐND
Điều đó càng trở nên cấp thiết khi nhìn từ những bất thường trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại Tuyên Quang. Việc hơn 140 bài thi đạt điểm 10 môn Toán tập trung tại Trường THPT chuyên Tuyên Quang, trong tổng số 154 điểm 10 của toàn tỉnh, cùng những dấu hiệu bất thường tại điểm thi này đã buộc Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Công an kiểm tra, xác minh; một giáo viên của trường sau đó bị bắt để điều tra.
Vụ việc cho thấy một nghịch lý không thể né tránh: trong khi giáo dục được đặt trước yêu cầu đột phá để tạo ra nguồn nhân lực có năng lực khoa học, công nghệ và sáng tạo, thì hệ thống đánh giá con người lại phải trước hết bảo đảm được sự trung thực và công bằng. Một nền giáo dục không thể nói đến phát triển năng lực nếu điểm số không phản ánh đúng năng lực; càng không thể nói đến xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao nếu ngay khâu xác định chất lượng đầu vào đã tồn tại những lỗ hổng làm suy giảm niềm tin xã hội. Vì vậy, đột phá giáo dục không chỉ là đổi mới chương trình, phương pháp hay công nghệ, mà còn là thiết lập một hệ thống đánh giá minh bạch, khách quan và đủ độ tin cậy để mỗi kết quả học tập thực sự phản ánh năng lực của người học.
Từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, con người và kiến quốc năm 1945 đến yêu cầu đột phá giáo dục hiện nay, giáo dục phải được nhìn nhận như nền tảng trực tiếp tạo dựng năng lực nội sinh, chất lượng nguồn nhân lực và sức mạnh quốc gia; trong đó, trung thực học thuật và độ tin cậy của đánh giá là điều kiện không thể thiếu.
Trong kỷ nguyên mới, câu trả lời phải được thể hiện bằng một nền giáo dục có khả năng phát hiện và phát triển tài năng, một hệ thống khoa học - công nghệ có khả năng tạo ra tri thức mới, một thị trường lao động có khả năng sử dụng hiệu quả nhân lực chất lượng cao và một môi trường xã hội trong đó con người có điều kiện học tập, sáng tạo và cống hiến.
Khi đó, “công học tập của các em” không còn chỉ là một lời căn dặn của lịch sử mà trở thành một nguyên lý phát triển: phát triển con người để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất để nâng cao đời sống nhân dân, và trên nền tảng ấy củng cố năng lực tự chủ và sức mạnh quốc gia.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội, 2024.
Bộ Chính trị. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Hà Nội, 2025.
Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 4. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2011.
Hồ Chí Minh. “Lời kêu gọi chống nạn thất học.” Tháng 10 năm 1945. Tư liệu Hồ Chí Minh và Văn kiện Đảng.
Hồ Chí Minh. “Thư gửi học sinh.” Ngày 5 tháng 9 năm 1945. Cổng Thông tin điện tử Hồ Chí Minh.
Tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm: “Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành Giáo dục và khai giảng năm học 2025–2026.” Ngày 5 tháng 9 năm 2025. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Kết luận tại cuộc làm việc với ngành Giáo dục và Đào tạo về công tác chuẩn bị năm học 2026–2027 và triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW. Ngày 15 tháng 6 năm 2026. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
bình luận (0)