Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Lãnh tụ Hồ Chí Minh và vai trò kiến tạo nhịp cầu giữa khát vọng độc lập của Việt Nam với nước Mỹ

17/08/2026 21:56 vietmy.net.vn

Nhìn lại một cuộc gặp gỡ đặc biệt của lịch sử

Tám mươi mốt năm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, việc nhìn lại những tiếp xúc và hợp tác giữa Việt Nam với Hoa Kỳ trong những tháng cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai không chỉ có ý nghĩa đối với việc nhận thức đầy đủ hơn về một giai đoạn đặc biệt của lịch sử dân tộc, mà còn gợi mở nhiều vấn đề có giá trị đối với nghiên cứu quan hệ quốc tế và tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh.

Tại thời điểm đó, trật tự thế giới cũ đang chuyển hóa mạnh mẽ, cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam đã gặp gỡ với chiến lược chống phát xít của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Từ sự gặp gỡ đó hình thành một quá trình tiếp xúc, hợp tác và hiểu biết giữa những người Việt Nam đang đấu tranh giành độc lập với những người Mỹ đang thực hiện nhiệm vụ chống Nhật.

Điều đáng chú ý là sự gặp gỡ ấy không thể được giải thích giản đơn bằng một phía “giúp đỡ” và một phía “được giúp đỡ”, càng không nên nhìn nó như một quan hệ đồng minh Việt – Mỹ theo nghĩa đầy đủ của quan hệ quốc tế.

Cả Việt Minh và Hoa Kỳ đều những mục tiêu, lợi ích và nền tảng chính trị khác nhau. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của năm 1945, những khác biệt ấy không ngăn cản sự hình thành một vùng lợi ích chung: Hoa Kỳ cần sự phối hợp của các lực lượng bản địa trong cuộc chiến chống Nhật; Việt Nam cần tranh thủ sự hợp tác và thiện chí của các lực lượng Đồng minh để phục vụ cuộc đấu tranh giành độc lập. Chính trong vùng gặp gỡ ấy, một cơ duyên lịch sử đặc biệt đã xuất hiện.

Ở trung tâm của cơ duyên ấy là Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Với tầm nhìn chiến lược, khả năng nhận định tình hình quốc tế và nghệ thuật vận dụng linh hoạt các mối quan hệ đối ngoại, Người đã chủ động tìm kiếm sự tiếp xúc với các đại diện Hoa Kỳ, tạo điều kiện để hai bên hợp tác trong cuộc chiến chống Nhật, đồng thời từng bước đưa sự tiếp xúc ấy vượt ra khỏi khuôn khổ của một quan hệ hợp tác thời chiến để hướng tới khả năng xây dựng quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên cơ sở tôn trọng độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.

Nhìn từ chiều sâu ấy, lịch sử Việt – Mỹ năm 1945 có thể được xem như một cơ duyên của lịch sử, trong đó khát vọng độc lập của Việt Nam gặp gỡ một lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ; và Lãnh tụ Hồ Chí Minh chính là nhân vật có vai trò đặc biệt trong việc nhận diện, thúc đẩy và định hình cuộc gặp gỡ ấy.

Các thành viên của Đội Con Nai (Deer Team) và Việt Minh tại trại huấn luyện. Allison Thomas đứng ở vị trí trung tâm; đứng bên trái ông là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bên phải là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ảnh do Rene Defourneaux cung cấp. (nguồn: https://www.nationalww2museum.org)

Cách mạng Tháng Tám trong một thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trước hết là thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thắng lợi ấy là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài về chính trị, tổ chức, lực lượng và căn cứ địa; là sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với những điều kiện quốc tế thuận lợi; đặc biệt là khả năng nắm bắt thời cơ lịch sử của Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ nghệ thuật nắm bắt thời cơ ấy, cần đặt Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh quốc tế của năm 1945.

Chiến tranh thế giới thứ hai đã đi đến hồi kết. Phát xít Đức đầu hàng tháng 5/1945; Nhật Bản ngày càng lâm vào thế thất bại và cuối cùng tuyên bố đầu hàng Đồng minh tháng 8/1945. Sự sụp đổ của hệ thống phát xít tạo ra một khoảng trống quyền lực ở nhiều khu vực châu Á, trong đó có Đông Dương. Đồng thời, thắng lợi của lực lượng Đồng minh làm nổi bật những nguyên tắc về hòa bình, tự do và quyền dân tộc mà các nước tham chiến đã nhiều lần tuyên bố trong thời kỳ chiến tranh.

Đối với Việt Nam, đây là thời điểm đặc biệt thuận lợi để chuyển hóa những điều kiện quốc tế thành thời cơ cách mạng.

Nhưng thời cơ không tự mình tạo ra thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám thành công bởi lực lượng cách mạng Việt Nam đã có sự chuẩn bị từ trước và có khả năng chủ động hành động khi thời cơ xuất hiện. Những nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám cũng nhấn mạnh bản lĩnh độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng trong việc kết hợp điều kiện trong nước với bối cảnh quốc tế.

Trong bối cảnh đó, sự tiếp xúc giữa Việt Minh và các cơ quan, nhân viên Hoa Kỳ chống Nhật cho thấy hoạt động đối ngoại và tranh thủ lực lượng quốc tế của cách mạng Việt Nam và đây là một bộ phận cấu thành cho thành công của cách mạng đó không phải là nhân tố quyết định thay thế cho sức mạnh nội sinh của cách mạng.

Do vậy việc hợp tác với Hoa Kỳ là một yếu tố hỗ trợ và có ý nghĩa quốc tế, chủ thể quyết định của Cách mạng Tháng Tám là nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Các thành viên của Đội Con Nai (Deer Team) đang hướng dẫn các chiến sĩ Việt Nam cách sử dụng súng carbine M-1, ngày 16 tháng 8 năm 1945. Ảnh: Cục Lưu trữ và Bản ghi Quốc gia Hoa Kỳ (NARA).

Cơ duyên Việt – Mỹ bắt đầu từ sự gặp gỡ giữa hai nhu cầu lịch sử

Cơ duyên lịch sử Việt – Mỹ gặp nhau trong một bối cảnh lịch sử phức tạp. Từ phía Hoa Kỳ, việc chống Nhật tại Đông Dương đặt ra nhu cầu thu thập tin tức, cứu phi công Đồng minh bị bắn rơi, xây dựng mạng lưới liên lạc và phối hợp với các lực lượng địa phương có khả năng hoạt động chống Nhật.

Office of Strategic Services (OSS) – tiền thân quan trọng của hệ thống tình báo chiến lược Hoa Kỳ sau này – đã triển khai hoạt động tại Đông Dương trong hoàn cảnh đó.

Từ phía Việt Nam, Việt Minh đứng trước yêu cầu tranh thủ mọi khả năng quốc tế có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Việc cứu giúp phi công Đồng minh, cung cấp thông tin về quân Nhật và hợp tác với các cơ quan của Hoa Kỳ vừa phù hợp với chủ trương chống phát xít, vừa tạo ra khả năng tranh thủ sự hiểu biết và ủng hộ của một cường quốc đang có vai trò ngày càng lớn trong trật tự quốc tế.

Chính vì vậy, sự hợp tác Việt – Mỹ năm 1945 có thể được nhìn nhận như sự gặp nhau của hai nhu cầu lịch sử khác nhau nhưng có một vùng lợi ích chung.

Điều này càng cho thấy tầm nhìn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Người không chờ đợi một sự hỗ trợ từ bên ngoài đến với cách mạng Việt Nam, mà chủ động nhận diện những khả năng có thể phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc. Tư tưởng đối ngoại của Người thể hiện rõ quan điểm phải biết tranh thủ sự đồng tình của nhân dân và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đồng thời giữ vững tính độc lập, tự chủ của cách mạng Việt Nam.

Một trong những điểm cần được làm rõ khi nghiên cứu quan hệ Việt – Mỹ năm 1945 là quá trình tiếp xúc không bắt đầu từ sự xuất hiện của Đội Con Nai tại Tân Trào vào tháng 7/1945.

Trước đó đã có những tiếp xúc giữa Lãnh tụ Hồ Chí Minh và đại diện phía Hoa Kỳ trong quá trình phối hợp chống Nhật.

Tháng 2/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh rời Pác Bó (Cao Bằng) sang Côn Minh (Trung Quốc) với sứ mệnh đặc biệt quan trọng, đó là mở cuộc vận động cho Phong trào Việt Minh có chân trong phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít. Ở Côn Minh lúc bấy giờ đang là “Đại bản doanh” của các lực lượng Đồng minh như: Không đoàn 14 (Mỹ), Cơ quan trợ giúp căn cứ Không quân (AGAS), Cơ quan phục vụ chiến lược (OSS)... Tại đây, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi với nhiều sĩ quan chỉ huy các lực lượng, trong số đó có Charles Fenn, một trung úy làm việc trong OSS và tướng Claire Lee Chennault-Tư lệnh Không đoàn 14, biệt danh “Hổ Bay”.

Điều này cho thấy Người đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết lập quan hệ với các lực lượng Đồng minh, trong đó Hoa Kỳ là một đối tác đặc biệt đáng chú ý.

Một điểm cần phân biệt rõ về mặt lịch sử là: Lãnh tụ Hồ Chí Minh năm 1945 không phải là một nhân vật “không rõ là cộng sản hay không cộng sản”. Người đã là một nhà cách mạng cộng sản, là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và giữ vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, trong hoạt động đối ngoại năm 1945, Người đồng thời là lãnh tụ của Việt Minh – một mặt trận dân tộc rộng rãi tập hợp nhiều lực lượng yêu nước khác nhau. Vì vậy, khi các đại diện Hoa Kỳ tiếp xúc với Người và Việt Minh, điều họ trực tiếp đối diện trong quan hệ hợp tác chống Nhật là một lực lượng dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, chứ không phải một quan hệ đồng minh ý thức hệ giữa hai chính phủ.

Sự phân biệt này giúp tránh hai cách hiểu cực đoan: một mặt phủ nhận bản chất chính trị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và phong trào cách mạng do Người lãnh đạo; mặt khác lại dùng sự phân loại ý thức hệ của những thập niên sau để giải thích giản đơn mọi tiếp xúc Việt – Mỹ trong năm 1945.

Chính trong sự phức hợp đó thể hiện bản lĩnh của Lãnh tụ Hồ Chí Minh: kiên định về mục tiêu độc lập dân tộc nhưng linh hoạt trong phương thức tập hợp lực lượng và quan hệ quốc tế.

Từ những cuộc tiếp xúc ban đầu đến sự hợp tác tại Việt Bắc

Đến năm 1945, quá trình tiếp xúc Việt – Mỹ ngày càng cụ thể. Phía Hoa Kỳ thông qua OSS tìm cách xây dựng quan hệ với lực lượng Việt Minh để phục vụ hoạt động chống Nhật. Phía Việt Minh chủ động cung cấp thông tin, cứu giúp phi công Đồng minh và tạo điều kiện cho các nhân viên OSS hoạt động tại khu vực căn cứ cách mạng.

Tài liệu của phía Hoa Kỳ cho thấy OSS đã có quan hệ làm việc với lực lượng của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong năm 1945. Các nghiên cứu lịch sử của Hoa Kỳ cũng thừa nhận sự hợp tác này trong cuộc chiến chống Nhật.

Đáng chú ý hơn cả là sự xuất hiện của Đội Con Nai tại khu căn cứ Việt Minh ở Tân Trào vào tháng 7/1945. Các nhân viên OSS đã tiến hành huấn luyện, cung cấp một số trang bị và hỗ trợ thông tin liên lạc cho lực lượng Việt Minh. Việc hợp tác này đã tạo ra một kênh tiếp xúc trực tiếp giữa người Mỹ và lực lượng cách mạng Việt Nam ngay tại căn cứ địa của cách mạng.

Tại đây, các cứ liệu lịch sử cho thấy OSS và Việt Minh đã có hoạt động phối hợp thực tế tại Việt Bắc trong những tháng cuối của cuộc chiến chống Nhật. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng lưu giữ nhiều tư liệu về sự hợp tác Việt – Mỹ trong thời kỳ này.

Ý nghĩa của sự hợp tác không chỉ nằm ở số lượng vũ khí hay số người được huấn luyện. Quan trọng hơn, nó tạo điều kiện để những người Mỹ trực tiếp quan sát thực tế Việt Nam, tiếp xúc với lực lượng Việt Minh và nhận biết rằng đây là một lực lượng có tổ chức, có khả năng hoạt động thực tế và có cơ sở xã hội trong cuộc đấu tranh chống Nhật.

Đồng thời, đối với Việt Minh, sự tiếp xúc ấy giúp mở rộng nhận thức về nước Mỹ và tạo thêm một kênh để truyền đạt với phía Hoa Kỳ về mục tiêu độc lập của Việt Nam.

Đây là quá trình từ hợp tác chống Nhật đến hình thành sự hiểu biết lẫn nhau, trong đó Lãnh tụ Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm trong việc duy trì và phát triển các kênh tiếp xúc.

Sự hiện diện của những người Mỹ tại Tân Trào vì vậy có ý nghĩa lớn hơn một hoạt động quân sự thông thường. Nó cho thấy cuộc đấu tranh của Việt Nam giành độc lập đã có khả năng tạo dựng những quan hệ thực tế với một lực lượng quốc tế quan trọng ngay trong thời điểm quyết định của cuộc chiến chống phát xít.

Điều này cũng giúp lý giải vì sao một số nhân viên OSS sau này có những đánh giá tương đối tích cực về Việt Minh và Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Những người này không tiếp cận Việt Nam hoàn toàn qua các báo cáo của chính quyền thuộc địa Pháp, mà có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với những người đang tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật.

Một trong những giá trị lớn nhất của sự hợp tác Việt – Mỹ năm 1945 vì vậy là giá trị của tiếp xúc trực tiếp. Khi các lực lượng chính trị và các dân tộc có cơ hội gặp nhau, nhận thức về nhau có thể được hình thành từ thực tế thay vì chỉ qua những định kiến hoặc thông tin gián tiếp.

Đó cũng là một trong những thành quả ngoại giao đáng chú ý mà Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chủ động tạo dựng.

Archimedes Patti và đại tướng Võ Nguyên Giáp (cả hai ở vị trí trung tâm phía trước) làm lễ chào cờ Đồng minh và cờ Việt Nam khi bài "The Star-Spangled Banner" (Quốc ca Hoa Kỳ) và Quốc ca Việt Nam vang lên. Ảnh do Bộ sưu tập Archimedes L. Patti, Đại học Central Florida cung cấp.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh – người kết nối hai thế giới

Vai trò của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt – Mỹ năm 1945 cần được nhìn ở tầng sâu hơn việc Người trực tiếp gặp các nhân viên OSS.

Điểm đặc biệt trong tư duy của Người là khả năng đặt lợi ích của Việt Nam trong quan hệ với những biến chuyển của thế giới mà không đánh mất tính độc lập của mục tiêu cách mạng.

Người hiểu rõ rằng cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam diễn ra trong một thế giới mà các cường quốc có ảnh hưởng rất lớn tới số phận các dân tộc thuộc địa.

Vì vậy, một mặt phải dựa vào sức mạnh của chính mình, mặt khác phải chủ động xây dựng quan hệ với các lực lượng quốc tế có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho nền độc lập của Việt Nam.

Đây là tư duy “thêm bạn, bớt thù” được vận dụng rất linh hoạt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Với Hoa Kỳ, Người nhìn thấy một khả năng đặc biệt. Hoa Kỳ không phải là một lực lượng thuộc địa đang trực tiếp cai trị Việt Nam; hơn nữa, nước Mỹ đang đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống Nhật và trong việc hình thành trật tự quốc tế sau chiến tranh.

Vì vậy, nếu Việt Nam có thể làm cho nước Mỹ hiểu đúng về mục tiêu độc lập của mình, đó sẽ là một lợi thế quan trọng về ngoại giao.

Tư duy ấy giải thích vì sao sự hợp tác với OSS không chỉ được Lãnh tụ Hồ Chí Minh xem xét dưới góc độ quân sự. Người đồng thời coi đó là một cơ hội để giới thiệu Việt Nam với nước Mỹ và mở rộng không gian quốc tế cho vấn đề độc lập Việt Nam.

Đây chính là điểm có thể gọi là vai trò cầu nối của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Không phải cầu nối giữa hai hệ tư tưởng.

Cũng không phải cầu nối giữa hai chính phủ đã có quan hệ ngoại giao.

Mà là cầu nối giữa một dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và một nước lớn đang có ảnh hưởng ngày càng tăng trong trật tự quốc tế, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp, sự hiểu biết và những lợi ích có thể cùng gặp nhau.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, tính chất của vấn đề Việt Nam bắt đầu thay đổi rất nhanh. Cuộc chiến chống Nhật kết thúc, trong khi vấn đề ai sẽ quyết định tương lai chính trị của Đông Dương trở nên cấp thiết.

Đối với Việt Nam, đây là thời điểm phải nhanh chóng chuyển từ một lực lượng chống Nhật sang một chính quyền cách mạng có khả năng xác lập chủ quyền quốc gia.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ đây, quan hệ với Hoa Kỳ không còn chỉ nằm trong phạm vi phối hợp chống Nhật. Nó trở thành một vấn đề của ngoại giao nhà nước và cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng để nhận thức vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không coi sự hợp tác với những nhân viên OSS trong chiến tranh là mục đích tự thân. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Người tiếp tục tìm cách đưa quan hệ với Hoa Kỳ sang một cấp độ mới.

Các tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho thấy từ tháng 9/1945 đến đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động gửi nhiều thư, điện và thông điệp tới Tổng thống Harry Truman và Chính phủ Hoa Kỳ, tìm kiếm sự ủng hộ đối với nền độc lập Việt Nam.

Điều đó chứng minh một cách thuyết phục rằng những tiếp xúc với Hoa Kỳ trong năm 1945 không chỉ mang tính chất nhất thời. Trong nhận thức của lãnh tụ Hồ Chí Minh, chúng mở ra một khả năng rộng hơn: xây dựng một quan hệ Việt – Mỹ dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng quyền độc lập của Việt Nam.

Một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của tư duy đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời khắc khai sinh nước Việt Nam mới là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn Độc lập bằng những tư tưởng được khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp.

Trong đó, việc dẫn Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ có ý nghĩa đặc biệt đối với quan hệ Việt – Mỹ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945

Chủ tịch Hồ Chí Minh không đơn thuần trích dẫn một văn kiện nổi tiếng của nước Mỹ. Người đặt vấn đề độc lập Việt Nam trong một hệ thống giá trị có sức thuyết phục rộng rãi đối với cộng đồng quốc tế: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền của các dân tộc.

Từ quyền con người, Người phát triển thành quyền dân tộc: các dân tộc cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Đây là một sự vận dụng sáng tạo.

Bởi nếu nước Mỹ từng khẳng định quyền độc lập của mình trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị của Anh, thì Việt Nam cũng có quyền khẳng định quyền độc lập sau nhiều thập niên chịu ách thống trị thuộc địa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đó đã tạo ra một ngôn ngữ đối thoại với nước Mỹ ngay trong văn kiện khai sinh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Điều quan trọng là Người không đặt Việt Nam vào vị trí xin một đặc ân. Người khẳng định độc lập Việt Nam trên cơ sở những nguyên lý mà cộng đồng quốc tế đã tuyên bố.

Đó là một biểu hiện rất rõ của tư duy ngoại giao Hồ Chí Minh: dùng những giá trị có tính phổ quát để khẳng định quyền và lợi ích chính đáng của dân tộc Việt Nam.

Một chi tiết có ý nghĩa đặc biệt là sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục quan tâm đến việc mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ trên những lĩnh vực vượt ra ngoài chiến tranh.

Trong các đề nghị của Người với phía Mỹ có nội dung liên quan đến giáo dục, khoa học, kỹ thuật và giao lưu thanh niên. Những đề xuất ấy cho thấy Người không nhìn Hoa Kỳ chỉ như một lực lượng có thể cung cấp vũ khí hay hỗ trợ trong một thời điểm quân sự.

Người nhìn thấy ở nước Mỹ những nguồn lực tri thức, khoa học và kỹ thuật mà Việt Nam có thể học hỏi trong quá trình xây dựng đất nước.

Quan trọng hơn, Người hướng tới quan hệ giữa nhân dân hai nước.

Đây là một chi tiết có giá trị nhận thức rất lớn. Bởi trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là quan hệ giữa các chính phủ. Sự hiểu biết giữa nhân dân các nước là một nền tảng quan trọng để xây dựng quan hệ lâu dài.

Từ cách nhìn này, “cầu nối Hồ Chí Minh” không chỉ nối Việt Nam với chính quyền Hoa Kỳ, mà còn nối nhân dân Việt Nam với nhân dân Hoa Kỳ.

Đây là một chiều kích đặc biệt đáng chú ý nếu nhìn từ quan hệ Việt – Mỹ hiện nay.

Vì sao cơ duyên năm 1945 chưa trở thành quan hệ chính thức?

Câu hỏi này cần được đặt ra, nhưng không nên dùng nó để phủ định giá trị của cuộc gặp gỡ.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, môi trường quốc tế thay đổi nhanh chóng. Vấn đề Đông Dương không còn chỉ được nhìn từ yêu cầu chống Nhật. Pháp tìm cách khôi phục vị thế tại Đông Dương; Anh và Trung Quốc có những lợi ích riêng trong việc xử lý vấn đề Đông Dương; đồng thời quan hệ giữa các cường quốc Đồng minh cũng bắt đầu chuyển sang một trạng thái mới.

Trong hoàn cảnh đó, những đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hoa Kỳ không lập tức dẫn tới việc Washington công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Các tài liệu ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy chính quyền Mỹ tiếp nhận và theo dõi những diễn biến tại Việt Nam, nhưng chính sách của Washington đối với Đông Dương chịu tác động bởi nhiều tính toán quốc tế rộng lớn hơn. Hồ sơ ngoại giao Hoa Kỳ về Đông Dương sau chiến tranh là nguồn quan trọng để nghiên cứu sự thay đổi này.

Điều đó không có nghĩa sự hợp tác năm 1945 là một “ảo tưởng”. Cũng không có nghĩa Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đánh giá sai toàn bộ khả năng của Hoa Kỳ.

Điều đó phản ánh một thực tế căn bản của quan hệ quốc tế: một cơ hội ngoại giao có thể xuất hiện nhưng để chuyển hóa thành quan hệ chính thức còn phụ thuộc vào cấu trúc lợi ích của nhiều chủ thể và những biến động của môi trường quốc tế.

Vì vậy, không nên lấy kết quả của những năm sau để phủ nhận ý nghĩa của sự hợp tác năm 1945.

Quan hệ hai nước sau năm 1945 đã trải qua một chặng đường vô cùng phức tạp, mà đỉnh điểm là cuộc chiến tranh kéo dài nhiều năm và để lại những hậu quả nặng nề cho cả Việt Nam và Hoa Kỳ.

Nhưng chính vì những biến cố ấy mà việc trở về với năm 1945 càng có giá trị.

Nếu lấy chiến tranh Việt Nam làm lăng kính duy nhất để đọc năm 1945, người nghiên cứu rất dễ rơi vào tình trạng xét lại lịch sử, tức là đem những cấu trúc đối đầu hình thành về sau áp đặt vào một thời điểm mà chúng chưa tồn tại đầy đủ.

Năm 1945 cần được nhìn trong chính bối cảnh của nó.

Đó là năm cuộc chiến chống phát xít đang kết thúc; là năm các dân tộc thuộc địa đứng trước một cơ hội lịch sử mới; là năm Việt Nam giành chính quyền và tuyên bố độc lập; là năm người Việt Nam và người Mỹ có những tiếp xúc trực tiếp trong cuộc chiến chống Nhật.

Chính trong hoàn cảnh ấy, sự hợp tác Việt – Mỹ có ý nghĩa lịch sử riêng mà những biến cố về sau không thể xóa bỏ.

Ngược lại, cũng không nên sử dụng sự hợp tác năm 1945 để phủ nhận những khác biệt và xung đột đã xảy ra trong các giai đoạn sau.

Lịch sử Việt – Mỹ đã trải qua quá trình có nhiều tầng, nhiều thời điểm và nhiều trạng thái quan hệ khác nhau.

Vai trò của Lãnh tụ Hồ Chí Minh: từ người mở đường đến người kiến tạo quan hệ

Nếu phải xác định một luận điểm trung tâm về vai trò của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong câu chuyện Việt – Mỹ năm 1945, có thể khái quát rằng Người đã thực hiện đồng thời ba chức năng đối ngoại quan trọng.

Trước hết, Người nhận diện khả năng hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Nhật. Trong hoàn cảnh quốc tế phức tạp, Người không để những khác biệt về chế độ chính trị ngăn cản việc tìm kiếm lợi ích chung có thể phục vụ mục tiêu độc lập.

Tiếp đó, Người tạo dựng sự tiếp xúc và hiểu biết trực tiếp giữa Việt Minh với những người Mỹ thực hiện nhiệm vụ chống Nhật. Sự tiếp xúc ấy giúp phía Mỹ hiểu rõ hơn về Việt Minh, đồng thời giúp cách mạng Việt Nam mở rộng quan hệ với một lực lượng quốc tế quan trọng.

Cuối cùng, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Người chủ động tìm cách chuyển hóa sự hợp tác thời chiến thành quan hệ giữa hai quốc gia và hai dân tộc. Những thư, điện và đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới Chính phủ Hoa Kỳ trong những tháng cuối năm 1945 và đầu năm 1946 là bằng chứng rõ ràng cho định hướng này.

Ba phương diện ấy cho thấy vai trò của Người không chỉ là vai trò của một nhà lãnh đạo cách mạng trong việc tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, mà còn là vai trò của một nhà kiến tạo quan hệ quốc tế, biết nhận diện lợi ích chung, tạo dựng lòng tin và mở rộng khả năng hợp tác.

Từ quá khứ đến tương lai, Việt Nam và Hoa Kỳ đã đi qua những khúc quanh co của lịch sử.

Ý nghĩa của cơ duyên Việt – Mỹ năm 1945 đối với quan hệ hai nước hôm nay

Nhìn từ năm 2026, ý nghĩa của những cuộc gặp gỡ năm 1945 càng trở nên rõ hơn.

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã trải qua một hành trình đặc biệt: từ hợp tác chống Nhật năm 1945, chuyển sang bất đồng và đối đầu trong những thập niên sau, rồi từng bước vượt qua quá khứ để bình thường hóa quan hệ năm 1995, thiết lập Đối tác toàn diện năm 2013 và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2023. Nhìn trên toàn bộ tiến trình ấy, năm 1945 không phải là một chi tiết bên lề.

Nó là một trong những điểm khởi đầu đáng chú ý của lịch sử tiếp xúc giữa hai dân tộc.

Điều đặc biệt là ngay tại thời điểm đầu tiên ấy, đã xuất hiện một nguyên tắc mà quan hệ Việt – Mỹ hiện đại tiếp tục thể hiện: hai nước có thể hợp tác khi xác định được những lợi ích chung, ngay cả khi còn tồn tại những khác biệt về lịch sử, chính trị và quan điểm.

Đó cũng là một trong những bài học có giá trị từ tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh.

Người không quan niệm độc lập dân tộc đồng nghĩa với biệt lập quốc tế. Trái lại, độc lập phải đi cùng khả năng mở rộng quan hệ, tranh thủ sự đồng tình của quốc tế và tìm kiếm những điểm có thể hợp tác.

Quan hệ Việt – Mỹ năm 1945 chính là một ví dụ lịch sử sinh động cho tư duy ấy.

Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám là dịp để khẳng định một lần nữa ý nghĩa vĩ đại của thắng lợi năm 1945 đối với lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh; là thắng lợi của ý chí độc lập, tự chủ và khát vọng làm chủ vận mệnh của chính mình.

Trong dòng chảy lớn ấy, sự hợp tác Việt – Mỹ trong những tháng cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai là một phương diện đặc biệt đáng được nghiên cứu.

Không nên phóng đại nó thành một sự “giúp đỡ của Mỹ” đối với Cách mạng Tháng Tám, bởi điều đó không phản ánh đúng bản chất và vai trò quyết định của lực lượng cách mạng Việt Nam. Nhưng cũng không nên thu hẹp nó thành một sự hợp tác quân sự thuần túy, càng không nên xem đó chỉ là một cuộc gặp gỡ mang tính tình cờ, không để lại dấu ấn trong tư duy đối ngoại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đó là một cơ duyên lịch sử được hình thành từ sự gặp gỡ giữa những nhu cầu và lợi ích có thật của hai phía.

Nhưng nếu chỉ có sự trùng hợp về lợi ích, mối quan hệ ấy khó có được chiều sâu như vậy.

Vai trò của Lãnh tụ Hồ Chí Minh chính là yếu tố làm cho cơ duyên ấy trở nên có ý nghĩa đặc biệt.

Người đã nhìn thấy trong chiến lược chống Nhật của Hoa Kỳ một khả năng để tranh thủ sự hợp tác quốc tế cho sự nghiệp độc lập của Việt Nam. Người chủ động tiếp xúc với đại diện phía Mỹ, tạo dựng sự tin cậy cần thiết trong hợp tác chống Nhật, đồng thời từng bước đưa sự tiếp xúc ấy sang lĩnh vực rộng lớn hơn của quan hệ giữa hai quốc gia và hai dân tộc.

Tư duy ấy thể hiện một đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật đối ngoại Hồ Chí Minh: kiên định mục tiêu độc lập, tự chủ nhưng không tự cô lập; giữ vững nguyên tắc nhưng không khước từ những khả năng hợp tác; xuất phát từ lợi ích dân tộc nhưng luôn đặt sự nghiệp của Việt Nam trong quan hệ với những vận động lớn của thời đại.

Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 là minh chứng tiêu biểu cho tầm nhìn ấy. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những tư tưởng về quyền sống, quyền tự do và quyền bình đẳng từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Người không chỉ sử dụng một lập luận có sức thuyết phục đối với cộng đồng quốc tế. Người còn đặt nền độc lập của Việt Nam vào cuộc đối thoại với chính những giá trị mà nước Mỹ từng khẳng định trong lịch sử của mình. Từ quyền con người, Người phát triển thành quyền dân tộc; từ những nguyên lý của một cuộc cách mạng ở thế kỷ XVIII, Người khẳng định quyền sống và quyền tự do của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX.

Đó là một lựa chọn chính trị và ngoại giao có chiều sâu.

Nó cho thấy Lãnh tụ Hồ Chí Minh không nhìn nước Mỹ bằng một cách nhìn đơn tuyến. Người nhìn thấy ở nước Mỹ những lợi ích có thể hợp tác, những giá trị có thể đối thoại và những nguồn lực mà Việt Nam có thể học hỏi. Đồng thời, Người cũng không từ bỏ lập trường độc lập của dân tộc Việt Nam để đổi lấy sự ủng hộ của bất cứ cường quốc nào.

Đây chính là điểm làm nên giá trị của nhịp cầu Hồ Chí Minh” trong lịch sử Việt – Mỹ.

Người không làm cho Việt Nam trở thành một phần của nước Mỹ, cũng không tìm kiếm sự đồng nhất giữa hai hệ thống chính trị. Người tìm kiếm một điều căn bản hơn: sự hiểu biết giữa hai dân tộc và khả năng hợp tác trên những lợi ích chung, trong khi độc lập và tự chủ của Việt Nam được giữ vững.

Sau năm 1945, quan hệ Việt – Mỹ đã trải qua những bước ngoặt đau thương, những năm tháng đối đầu và một cuộc chiến để lại hậu quả sâu sắc. Nhưng lịch sử không vì thế mà mất đi những trang viết về sự hợp tác ban đầu. Trái lại, chính hành trình từ hợp tác đến đối đầu rồi từ đối đầu trở lại hợp tác cho thấy quan hệ giữa các quốc gia không phải một trạng thái bất biến. Những dân tộc từng đứng ở hai phía của một cuộc chiến vẫn có thể tìm thấy những lợi ích chung, vượt qua quá khứ và xây dựng một tương lai mới.

Trong ý nghĩa ấy, cơ duyên Việt – Mỹ năm 1945 không chỉ thuộc về quá khứ.

Nó còn có giá trị đối với hiện tại.

Bởi lịch sử ấy nhắc chúng ta rằng giữa những khác biệt sâu sắc vẫn có thể tồn tại những điểm đồng; rằng quan hệ quốc tế muốn bền vững cần được xây dựng trên sự tôn trọng lợi ích và phẩm giá của các dân tộc; và rằng một nhà lãnh đạo có tầm nhìn không chỉ biết bảo vệ lợi ích trước mắt mà còn biết nhận ra những khả năng của tương lai.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhìn thấy khả năng ấy trong những ngày đặc biệt của năm 1945.

Từ Tân Trào đến Hà Nội, từ những cuộc tiếp xúc với các nhân viên OSS đến Tuyên ngôn Độc lập, từ hợp tác chống Nhật đến những nỗ lực thiết lập quan hệ với Chính phủ Hoa Kỳ, Người đã góp phần mở ra một chương đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Chương đầu tiên ấy đã từng bị những biến động của thời đại che khuất, nhưng không thể bị xóa khỏi lịch sử.

Bởi đó là câu chuyện về một cơ duyên lịch sử, về sự gặp gỡ giữa khát vọng độc lập của Việt Nam với mục tiêu chống phát xít của Hoa Kỳ, và trên hết là về tầm nhìn của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc biến sự gặp gỡ ấy thành một nhịp cầu của sự hiểu biết giữa hai dân tộc.

Tài liệu khảo luận và tham khảo

I. Văn kiện, tư liệu của Việt Nam

Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 3: 1930–1945; Tập 4: 1945–1946, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, các tập liên quan giai đoạn 1940–1945, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 2, giai đoạn 1930–9/1945, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, các chuyên khảo và tư liệu về Cách mạng Tháng Tám, hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan hệ Việt – Mỹ năm 1945. Đặc biệt có giá trị là các bài nghiên cứu về việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế và quá trình pháp lý hóa thành quả Cách mạng Tháng Tám.

Bảo tàng Hồ Chí Minh, hệ thống tư liệu về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong năm 1945–1946.

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, các chuyên khảo về Hồ Chí Minh, Việt Minh và quan hệ với các nước Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

II. Tư liệu chính thức của Hoa Kỳ

U.S. Department of State, Foreign Relations of the United States (FRUS), các tập 1945–1946, Office of the Historian. Đây là nguồn sơ cấp đặc biệt quan trọng để nghiên cứu cách Chính phủ Hoa Kỳ nhìn nhận tình hình Việt Nam, Việt Minh và các đề nghị ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Foreign Relations of the United States – Office of the Historian

U.S. National Archives, hồ sơ của Office of Strategic Services (OSS), đặc biệt các tài liệu về hoạt động tại Đông Dương năm 1945.

U.S. National Park Service, các nghiên cứu về hoạt động của OSS tại Đông Dương và Đội Con Nai.

U.S. Department of State, Office of the Historian, các tư liệu hội thảo và hồi cứu về hoạt động của OSS tại Việt Nam năm 1945. Những tài liệu này xác nhận sự hợp tác giữa OSS với lực lượng của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống Nhật.

III. Hồi ký và công trình nghiên cứu học thuật

Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam? Prelude to America’s Albatross, University of California Press, 1980.

Dixee R. Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan, University Press of Kansas, 2006.

David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power, University of California Press, 1995.

William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, New York, 2000.

William J. Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, Westview Press.

George C. Herring, America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950–1975, McGraw-Hill. Công trình có giá trị đối với việc đặt quan hệ Việt – Mỹ sau 1945 trong tiến trình dài hơn của chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Pentagon Papers, United States–Vietnam Relations, 1945–1967, tài liệu quan trọng để nghiên cứu quá trình hình thành chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Link gốc