LỜI TÒA SOẠN:
“Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động” – tư tưởng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từ hơn bảy thế kỷ trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc và trí tuệ cha ông; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị và quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định tăng cường đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời là một trong những động lực quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Trên tinh thần đó, Tạp chí Việt Mỹ thực hiện loạt 5 bài viết với chủ đề: "Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động”, với mong muốn lan tỏa và đóng góp ý kiến xây dựng cho đường lối đối ngoại “trong ấm, ngoài êm; nội yên, ngoại tĩnh” của Đảng và Nhà nước ta đang theo đuổi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Loạt bài viết được thực hiện bởi nhóm tác giả bao gồm các nhà khoa học, nhà báo: Tiến sĩ Nguyễn Thắng Cảnh; Thạc sĩ Chính trị học Đào Ngọc Tước và nhà báo Vũ Văn Ninh của Tạp chí Việt - Mỹ.
Trân trọng gửi tới Quý độc giả.
Bài 4: Ngoại giao văn hóa vun đắp 'sức mạnh mềm' của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng của sự phát triển bền vững; Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định ngoại giao văn hóa và đối ngoại Nhân dân là một trong những trụ cột quan trọng của nền đối ngoại toàn diện, hiện đại.
Đây không chỉ là sự bổ sung về mặt nhận thức mà còn phản ánh bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Việt Nam: từ hội nhập để phát triển sang chủ động kiến tạo vị thế quốc gia trong môi trường quốc tế.
Trong bài viết "Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động", Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường quốc tế hòa bình, hữu nghị và hợp tác nhằm phục vụ phát triển đất nước.
Để thực hiện mục tiêu đó, bên cạnh ngoại giao kinh tế và đối ngoại quốc phòng - an ninh, ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân đang ngày càng khẳng định vai trò là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, góp phần xây dựng lòng tin, lan tỏa hình ảnh đất nước và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa dân tộc - "Văn hóa soi đường Quốc dân đi" là kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại, ngoại giao văn hóa của đất nước trong suốt nhiều năm qua
Mỗi người dân là một 'sứ giả văn hóa'
Ở bên kia bán cầu, tại bang Texas của Hoa Kỳ, Nguyễn Thùy Linh, một du học sinh Việt Nam, vẫn duy trì thói quen nấu những bữa cơm mang hương vị quê hương và mời bạn bè quốc tế cùng thưởng thức. Trong không gian nhỏ của khu ký túc xá, những món ăn như phở, nem rán, bánh mì hay bánh tôm không đơn thuần là thực phẩm, mà trở thành những câu chuyện về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam.
Những người bạn đến từ nhiều quốc gia khác nhau chăm chú lắng nghe Linh kể về cuộc sống ở Việt Nam, về những vùng quê thanh bình, những đô thị đang chuyển mình mạnh mẽ, về một dân tộc giàu truyền thống với nhiều đức tính tốt đẹp và cởi mở với thế giới. Không ít người trong số họ, sau những lần gặp gỡ ấy, đã bày tỏ mong muốn được một lần đặt chân đến Việt Nam.
Cũng tại Hoa Kỳ, nhóm "Vòng tay sinh viên Việt - Mỹ" thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, giới thiệu dân ca quan họ, nghệ thuật chèo, ca trù hay các hoạt động gói bánh chưng, viết câu đối mỗi dịp Tết Nguyên đán. Những việc làm tưởng chừng giản dị ấy lại góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng quốc tế.
Lê Thành Nam, một thành viên trong nhóm chia sẻ rằng, mỗi người trẻ Việt Nam ở nước ngoài đều có thể trở thành một sứ giả văn hóa của đất nước. Thông qua những hoạt động giao lưu đời thường, họ mong muốn kể câu chuyện về quê hương theo cách gần gũi và chân thực nhất.
Không chỉ những du học sinh hay người trẻ đang học tập, làm việc ở nước ngoài góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam, ở nhiều quốc gia trên thế giới còn có những người trẻ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba của cộng đồng người Việt Nam đang gìn giữ tiếng Việt như một cách gìn giữ cội nguồn dân tộc.
Tại Warszawa (Ba Lan), Đặng Thảo Phương, 17 tuổi, học sinh Trường tiếng Việt Lạc Long Quân, lựa chọn việc học tiếng Việt và kể những câu chuyện về Việt Nam với bạn bè như một cách để giữ gìn bản sắc văn hóa của gia đình và lan tỏa hình ảnh quê hương tới cộng đồng sở tại.
Thảo Phương cho biết em đã theo học tiếng Việt suốt 5 năm qua. Nhờ đó, em có thể giao tiếp với ông bà, bố mẹ và người thân bằng tiếng mẹ đẻ, đồng thời hiểu hơn về lịch sử, phong tục tập quán và những giá trị văn hóa của dân tộc.
"Việc học tiếng Việt giúp em cảm thấy gần gũi hơn với quê hương. Dù sinh ra và lớn lên ở Ba Lan nhưng em luôn cảm nhận mình là một phần của Việt Nam", Thảo Phương chia sẻ.
Những câu chuyện của Thùy Linh, Thành Nam hay Thảo Phương cho thấy ngoại giao văn hóa không chỉ hiện diện trong các hoạt động đối ngoại cấp cao mà còn được bồi đắp từ những việc làm bình dị của mỗi người dân.
Chính từ những kết nối đời thường ấy, hình ảnh một Việt Nam giàu bản sắc, thân thiện và hội nhập đang từng bước được lan tỏa tới cộng đồng quốc tế.

Văn hóa từ trong từng bữa ăn, từng câu chuyện (Ảnh: Vũ Ninh)
Văn hóa trở thành ‘sức mạnh mềm’ của quốc gia
Nếu như những bạn trẻ Việt Nam như Nguyễn Thùy Linh hay Lê Thành Nam đang mang câu chuyện Việt Nam đến với thế giới, thì câu chuyện của bà Tamar Lowell - một công dân Hoa Kỳ lại cho thấy khía cạnh khác của ngoại giao văn hóa đó là sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam đối với bạn bè quốc tế.
Từ những trang sách, thước phim về Việt Nam cho đến quyết định gắn bó với mảnh đất hình chữ S suốt hơn ba thập kỷ, hành trình của bà Tamar là minh chứng sinh động cho sức mạnh của những giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong việc tạo dựng sự đồng cảm, tin cậy và gắn kết giữa các dân tộc.
Đối với bà Tamar Lowell, Việt Nam không chỉ là một điểm đến du lịch mà đã trở thành quê hương thứ hai trong cuộc đời.
Việt Nam trong cảm nhận của bà là hình ảnh người nông dân với nụ cười hiền hậu, đội chiếc nón lá cần mẫn trên cánh đồng lúa; là hương thơm của những loại thảo mộc quen thuộc trong ẩm thực Việt Nam như lá chanh, gừng, bạc hà hay rau húng; là vẻ đẹp lãng mạn còn lưu lại trong những công trình kiến trúc mang dấu ấn lịch sử; và hơn hết là niềm hy vọng, sự lạc quan toát lên từ những con người bình dị trong lao động và cuộc sống.
Theo bà Tamar, điều đặc biệt nhất ở Việt Nam là khả năng gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống trong khi vẫn không ngừng vận động và phát triển. Giữa nhịp sống hiện đại đang diễn ra từng ngày, những nét đẹp văn hóa được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử vẫn hiện diện một cách tự nhiên trong đời sống cộng đồng.
Kể về hành trình đến Việt Nam của mình, bà cho biết từ khi còn nhỏ bà đã được đọc nhiều sách và xem nhiều bộ phim về Việt Nam. Không hiểu từ khi nào, hình ảnh một dân tộc kiên cường vượt qua chiến tranh để giành độc lập đã để lại trong bà những ấn tượng sâu sắc.
Khi Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu bình thường hóa quan hệ, Tamar quyết định thực hiện chuyến đi đầu tiên đến Việt Nam vào tháng 7/1994, như một dấu mốc đặc biệt trước khi tốt nghiệp đại học.
"Tôi vẫn nhớ như in cảm giác khi đặt chân tới Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Thành phố hiện ra đúng như những gì tôi từng hình dung qua sách báo và phim ảnh. Điều khiến tôi bất ngờ nhất là sự thân thiện của người dân. Với mái tóc đỏ, tôi dễ dàng trở thành tâm điểm chú ý trên đường phố. Nhiều người tiến đến bắt chuyện với tôi bằng tiếng Pháp. Khi biết tôi là người Mỹ, tôi đã khá lo lắng không biết mình sẽ nhận được phản ứng như thế nào.
Nhưng điều tôi nhận lại là những nụ cười cởi mở và những câu chuyện rất chân thành. Có người nói với tôi rằng họ từng chiến đấu cùng một người Mỹ nào đó ở San Diego, có người lại nhắc đến Tổng thống Bill Clinton. Điều khiến tôi luôn suy nghĩ cho đến tận bây giờ là bằng cách nào người Việt Nam có thể vượt lên những mất mát của chiến tranh để tiếp tục hướng tới tương lai với tinh thần cởi mở và bao dung đến như vậy", bà Tamar bồi hồi nhớ lại.
Chính sự chân thành ấy đã khiến bà thay đổi hoàn toàn kế hoạch ban đầu. Chuyến đi dự kiến kéo dài hai tuần được nối dài thành một tháng, rồi nhiều lần quay trở lại sau đó. Hơn ba mươi năm kể từ lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam, bà Tamar hiện là giám đốc một công ty du lịch hoạt động tại Việt Nam và coi nơi đây là quê hương thứ hai của mình.
Tamar cho biết điều khiến bà yêu quý Việt Nam không chỉ là cảnh quan thiên nhiên hay nền văn hóa đặc sắc, mà còn là con người Việt Nam với tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên và lòng hiếu khách.
Theo bà, Việt Nam đang phát triển rất nhanh nhưng những giá trị văn hóa truyền thống vẫn luôn đồng hành cùng cuộc sống hiện đại. Những ngôi nhà cổ ở Hà Nội, những con phố đèn lồng ở Hội An, hình ảnh chiếc áo dài, nón lá hay sự thân thiện của người dân bản địa chính là những điều tạo nên sức hấp dẫn riêng có của đất nước này.
Câu chuyện của Tamar cho thấy sức mạnh đặc biệt của văn hóa. Đó là khả năng vượt qua khác biệt về ngôn ngữ, lịch sử và khoảng cách địa lý để tạo dựng sự đồng cảm giữa con người với con người. Đây cũng chính là giá trị cốt lõi mà ngoại giao văn hóa hướng tới: xây dựng lòng tin, tăng cường hiểu biết và tạo nền tảng xã hội cho quan hệ giữa các quốc gia.
Chính từ những kết nối tưởng chừng rất đời thường ấy, sức mạnh mềm của một quốc gia được hình thành và lan tỏa vượt ra ngoài biên giới địa lý.
Nhìn từ thực tiễn quốc tế, những quốc gia có ảnh hưởng lớn trên thế giới thường không chỉ dựa vào tiềm lực kinh tế hay sức mạnh quân sự mà còn biết phát huy hiệu quả sức mạnh mềm được tạo nên từ văn hóa, hệ giá trị và mức độ hấp dẫn của hình ảnh quốc gia.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc ví von rằng nếu sức mạnh mềm là một cái cây thì ngoại giao văn hóa chính là bộ rễ. Bộ rễ ấy hấp thụ những giá trị được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dân tộc, từ truyền thống yêu nước, tinh thần hòa hiếu, lòng nhân ái, ý chí độc lập tự cường cho đến kho tàng di sản văn hóa phong phú, để chuyển hóa thành sức hấp dẫn và tầm ảnh hưởng của quốc gia trong đời sống quốc tế hiện đại.
Tinh thần này cũng được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh khi yêu cầu ngành đối ngoại và ngành văn hóa phải "biến những sức mạnh mềm thành sự đồng tình, ủng hộ, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam"; đồng thời chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc và đưa văn hóa trở thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy ngoại giao văn hóa của Việt Nam đang từng bước chuyển hóa những giá trị văn hóa dân tộc thành nguồn lực phát triển và lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Hình ảnh Việt Nam ngày càng hiện diện đậm nét hơn trên các diễn đàn quốc tế thông qua các chương trình Ngày Việt Nam ở nước ngoài, các tuần lễ văn hóa, liên hoan nghệ thuật quốc tế và hàng nghìn hoạt động giao lưu được tổ chức trên khắp thế giới.
Đặc biệt, những thành tựu trong công tác vận động UNESCO ghi danh các di sản văn hóa, danh hiệu quốc tế và các khu dự trữ sinh quyển đã góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong đời sống văn hóa toàn cầu. Không chỉ là sự ghi nhận đối với các giá trị văn hóa dân tộc, đây còn là minh chứng cho năng lực hội nhập, khả năng đóng góp và trách nhiệm của Việt Nam đối với các giá trị chung của nhân loại.

Ngoại giao Văn hóa phải là mũi nhọn trong việc quảng bá hình ảnh, đất nước con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế (Ảnh: Vũ Ninh)
Xây dựng ngành Công nghiệp Văn hóa hiện đại, sáng tạo
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số, ngoại giao văn hóa không còn chỉ được triển khai thông qua các hoạt động giao lưu truyền thống. Những sản phẩm của công nghiệp văn hóa đang ngày càng trở thành phương tiện quan trọng để lan tỏa hình ảnh quốc gia, góp phần đưa các giá trị văn hóa dân tộc tiếp cận công chúng toàn cầu một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, sức ảnh hưởng của các sản phẩm văn hóa đại chúng đôi khi vượt xa những phương thức quảng bá truyền thống. Làn sóng Hallyu của Hàn Quốc, anime và manga của Nhật Bản hay các sản phẩm điện ảnh của Hoa Kỳ đều là những ví dụ điển hình về việc chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia.
Đối với Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế sáng tạo, nhiều nghệ sĩ trẻ đang từng bước đưa các yếu tố văn hóa truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật hiện đại nhằm kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ toàn cầu.
Tháng 5/2026, nghệ sĩ Nguyễn Thanh Tùng (Sơn Tùng M-TP) ra mắt MV Come My Way, thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả trong và ngoài nước. Bên cạnh yếu tố giải trí, sản phẩm này được nhiều chuyên gia đánh giá là một nỗ lực đáng chú ý trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua âm nhạc đương đại.
Trong MV, hình ảnh Quần thể danh thắng Tràng An, Chùa Bái Đính, chim Lạc trên trống đồng Đông Sơn, lễ hội đua bò An Giang hay những họa tiết lấy cảm hứng từ nghệ thuật truyền thống Việt Nam được tái hiện với ngôn ngữ thị giác hiện đại. Đặc biệt, hình tượng chim Lạc xuất hiện giữa không gian đô thị Los Angeles như một biểu tượng cho hành trình vươn ra thế giới của văn hóa Việt Nam trong thời đại mới.
Điều đáng chú ý là những hình ảnh văn hóa ấy không xuất hiện dưới dạng minh họa đơn thuần mà được lồng ghép vào một sản phẩm giải trí có khả năng tiếp cận hàng triệu khán giả. Đây cũng là xu hướng đang được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn: đưa văn hóa dân tộc vào các sản phẩm sáng tạo để gia tăng khả năng lan tỏa và tạo dựng ảnh hưởng quốc tế.
Từ góc nhìn của một người trẻ từng đại diện Việt Nam tham dự các diễn đàn sắc đẹp quốc tế, Hoa hậu Lương Thùy Linh cho rằng văn hóa chính là "căn cước tinh thần" của mỗi quốc gia.
Theo cô, một đất nước có thể không lớn về diện tích nhưng nếu sở hữu một nền văn hóa độc đáo và có những người trẻ biết kể câu chuyện văn hóa bằng những hình thức hấp dẫn, sáng tạo thì quốc gia đó vẫn có thể tạo được dấu ấn mạnh mẽ trên bản đồ thế giới.
Lương Thùy Linh cho rằng trong thời đại số, việc quảng bá văn hóa không chỉ diễn ra trên các sân khấu lớn hay những diễn đàn quốc tế, mà còn hiện diện mỗi ngày trên các nền tảng mạng xã hội, nơi hàng triệu người trẻ đang kết nối và tương tác với nhau. Chính vì vậy, việc xây dựng một thế hệ công dân số am hiểu văn hóa dân tộc, có khả năng kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Quan điểm này cũng phản ánh một thực tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay: ngoại giao văn hóa không còn là hoạt động mang tính đơn tuyến từ các cơ quan quản lý nhà nước mà đang ngày càng được xã hội hóa sâu rộng. Từ nghệ sĩ, doanh nhân, nhà khoa học đến các bạn trẻ đang học tập, sinh sống ở nước ngoài đều có thể trở thành những chủ thể tham gia quảng bá hình ảnh đất nước.
Nếu ngoại giao văn hóa là bộ rễ nuôi dưỡng sức mạnh mềm quốc gia thì đối ngoại nhân dân chính là những mạch dẫn đưa sức mạnh đó lan tỏa sâu rộng trong đời sống quốc tế.
Khác với ngoại giao nhà nước mang tính chính thức, đối ngoại nhân dân được triển khai thông qua các tổ chức xã hội, các hội hữu nghị, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và hàng triệu người dân trực tiếp tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế. Chính sự gần gũi, linh hoạt và rộng mở ấy đã tạo nên sức sống đặc biệt cho đối ngoại nhân dân trong thời đại toàn cầu hóa.
Sức mạnh của đối ngoại nhân dân không nằm ở những tuyên bố lớn lao mà ở khả năng tạo dựng sự đồng cảm, hiểu biết và tin cậy giữa con người với con người. Trong nhiều trường hợp, những mối quan hệ được hình thành từ giao lưu nhân dân có sức sống bền vững và lâu dài hơn bất kỳ văn kiện hay thỏa thuận hợp tác nào.
Thông qua các chương trình giao lưu văn hóa, trao đổi thanh niên, hợp tác giáo dục, giao lưu học thuật, kết nghĩa địa phương và các hoạt động hữu nghị quốc tế, Việt Nam đã từng bước xây dựng được mạng lưới quan hệ rộng khắp với bạn bè trên thế giới. Đây là nền tảng xã hội quan trọng góp phần củng cố quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục và văn hóa.

Văn hóa cần phát huy vai trò và thế mạnh của Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Ảnh: Vũ Ninh)
Những nhịp cầu kết nối Việt Nam với thế giới
Trong tổng thể công tác đối ngoại của đất nước, cộng đồng hơn sáu triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài đang trở thành một nguồn lực đặc biệt quan trọng của đối ngoại nhân dân Việt Nam.
Không chỉ là một bộ phận không tách rời của dân tộc, kiều bào còn là những cầu nối tự nhiên giữa Việt Nam với thế giới. Thông qua các hoạt động kinh doanh, học tập, nghiên cứu khoa học, giao lưu văn hóa và các hoạt động cộng đồng, người Việt Nam ở nước ngoài đang góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước một cách sinh động, chân thực và gần gũi.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vai trò của thế hệ trẻ kiều bào càng trở nên quan trọng. Đây là lực lượng có lợi thế đặc biệt khi vừa am hiểu văn hóa Việt Nam, vừa có khả năng thích ứng và hội nhập với môi trường quốc tế. Họ không chỉ là những người tiếp nhận tri thức tiên tiến từ thế giới mà còn là những người kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ và phương thức phù hợp với công chúng quốc tế.
Theo bà Ngô Thị Thanh Mai, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài là lực lượng có tiềm năng to lớn, đóng vai trò cầu nối giữa quê hương và thế giới, mang theo giá trị Việt trong tâm hồn quốc tế hóa.
Từ thực tiễn công tác với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bà Ngô Thị Thanh Mai cho rằng cần xây dựng các chương trình giáo dục, truyền thông và kết nối văn hóa dành cho thanh niên kiều bào bằng những phương thức hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại số. Việc ứng dụng các nền tảng trực tuyến, các khóa học song ngữ, các chương trình trải nghiệm văn hóa, lịch sử, nghệ thuật dân tộc sẽ góp phần giúp thế hệ trẻ kiều bào hiểu sâu sắc hơn về cội nguồn, từ đó nâng cao ý thức gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để thanh niên kiều bào tham gia sâu rộng hơn vào các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam tại nước sở tại, từ các lễ hội văn hóa, tuần lễ du lịch, diễn đàn thanh niên đến các hoạt động giao lưu học thuật và sáng tạo nghệ thuật. Đây không chỉ là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước mà còn là môi trường để thế hệ trẻ người Việt ở nước ngoài phát huy vai trò và trách nhiệm đối với quê hương.
Nhìn rộng hơn, trong thời đại chuyển đổi số, mỗi công dân đều có thể trở thành một chủ thể của đối ngoại nhân dân. Một bài viết trên mạng xã hội, một đoạn video giới thiệu văn hóa Việt Nam, một dự án khởi nghiệp mang bản sắc dân tộc hay đơn giản là một cuộc trò chuyện với bạn bè quốc tế đều có thể trở thành những kênh lan tỏa hình ảnh đất nước.
Chính vì vậy, đối ngoại nhân dân ngày nay không chỉ giới hạn trong các hoạt động giao lưu truyền thống mà đang mở rộng mạnh mẽ trên không gian số, nơi những giá trị văn hóa được chia sẻ, kết nối và lan tỏa với tốc độ chưa từng có.
Đây cũng là yêu cầu mới đặt ra đối với công tác ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Nếu như trước đây, mục tiêu chủ yếu là quảng bá hình ảnh đất nước thì ngày nay cần tiến thêm một bước, đó là chuyển hóa hình ảnh thành niềm tin, chuyển hóa sự yêu mến thành hợp tác và chuyển hóa sức mạnh mềm thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.
Điều đó đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, giới văn nghệ sĩ, các nhà khoa học và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quảng bá hình ảnh quốc gia, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ những sáng kiến quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân sẽ tiếp tục giữ vai trò là những động lực quan trọng góp phần mở rộng không gian phát triển đất nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành ngoại giao hay ngành văn hóa mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.
Từ những bữa cơm Việt Nam trong khu ký túc xá tại Texas, những chương trình giao lưu văn hóa của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đến những sản phẩm sáng tạo mang đậm bản sắc dân tộc đang lan tỏa trên không gian số, ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân đang hiện diện bằng những cách rất đời thường nhưng đầy sức mạnh.
Chính từ những kết nối ấy, hình ảnh một Việt Nam hòa bình, thân thiện, giàu bản sắc và khát vọng phát triển đang từng bước được lan tỏa tới thế giới. Đó cũng là nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục mở rộng không gian hợp tác, nâng cao vị thế quốc gia và khẳng định tầm vóc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
bình luận (0)