Bài 2: Văn hóa - Cội nguồn, hồn cốt của dân tộc, sức mạnh nội sinh quan trọng để phát triển đất nước

30/06/2026 12:24 vietmy.net.vn

Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt, Đảng đã có những quyết sách chiến lược nhằm gìn giữ, bồi đắp “bản sắc”, phát huy cao độ văn hóa với tư cách là nguồn lực phát triển toàn diện cho các lĩnh vực của đất nước.

Kiên trì bồi đắp những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn là mạch nguồn bền bỉ hun đúc tâm hồn, khí phách và bản lĩnh Việt Nam. Có thể thấy rằng, nếu vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ tạo nên hình hài của một quốc gia, thì văn hóa chính là phần “hồn” tạo nên cốt cách, bản sắc dân tộc, là sức mạnh nội sinh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao biến thiên lịch sử để tồn tại, phát triển và khẳng định mình giữa dòng chảy văn minh nhân loại.

Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đúc kết: “Văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị quốc gia, bồi đắp hệ giá trị gia đình, hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới: yêu nước, nhân ái, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, kỷ cương, khát vọng”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đúc kết: “Văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc”. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Từ rất sớm, cha ông ta đã xây dựng nên một nền văn hóa giàu bản sắc, kết tinh từ lao động sản xuất, từ đời sống cộng đồng và quá trình thích ứng với tự nhiên, xã hội. Đó là nền văn hóa mang đậm tinh thần nhân văn, trọng nghĩa tình, đề cao đạo lý và gắn bó cộng đồng: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần cố kết làng xã, lòng yêu nước và ý thức quốc gia - dân tộc… trở thành những giá trị cốt lõi xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam.

Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam không chỉ bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng “vũ khí văn hóa” - bằng tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và sức mạnh cố kết cộng đồng. Chính văn hóa đã tạo nên sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách.

Điều đặc biệt của văn hóa Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng, với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi cộng đồng lại góp thêm một sắc màu văn hóa riêng, tạo nên bức tranh văn hóa Việt Nam phong phú mà vẫn thống nhất trong ý thức cộng đồng dân tộc. Tiêu biểu như: Giỗ Tổ Hùng Vương không đơn thuần là sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng, mà còn là không gian để cộng đồng tái hiện ký ức lịch sử, khẳng định căn tính văn hóa và truyền trao những giá trị đạo đức cho các thế hệ…

Giỗ Tổ Hùng Vương là không gian để cộng đồng tái hiện ký ức lịch sử, khẳng định căn tính văn hóa và truyền trao những giá trị đạo đức cho các thế hệ. (Ảnh: Báo chinhphu.vn)

Hòa cùng dòng chảy lịch sử dân tộc, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành nên nền văn hóa Việt Nam với những giá trị độc đáo, phong phú, thống nhất trong đa dạng. Văn hóa chính là cội nguồn, sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam, làm nên hồn cốt của dân tộc.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của văn hóa, Đảng ta luôn khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển đất nước. Những giá trị truyền thống vô giá đó đã được cả dân tộc ta gìn giữ, phát huy; là cơ sở, nền tảng để Đảng ta xác định các thành tố cốt lõi của hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Vun gốc bản sắc, ươm mầm phồn vinh

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác định giá trị cốt lõi của từng hệ giá trị, trong đó: Hệ giá trị quốc gia bao gồm 9 thành tố: hoà bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.

Hệ giá trị văn hoá bao gồm 4 thành tố: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; hệ giá trị gia đình bao gồm 4 thành tố: ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh.

Chuẩn mực con người Việt Nam bao gồm 8 thành tố: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đó là biểu hiện sinh động của quyết tâm vun gốc bản sắc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc ta.

Để tiếp tục đắp bồi bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng ta đã đề ra những giải pháp cụ thể nhằm phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và xây dựng môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Đồng thời, bảo đảm đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hoá, tiếp cận bình đẳng văn hoá, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hoá giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân.

Mới đây, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã ban hành Nghị quyết và xác định ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam, với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, để Nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hoá, đội ngũ văn nghệ sĩ được động viên sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hoá, văn minh.

Ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam là ngày nghỉ, để Nhân dân nâng cao khả năng thụ hưởng văn hoá. Ảnh: TTXVN

Đây là minh chứng cụ thể để khẳng định nhất quán chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống Nhân dân, để mạch nguồn văn hóa mãi mãi được vun trồng từ gốc rễ, để vững vàng đơm hoa, kết trái. Đó cũng chính là tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Văn hóa chỉ tồn tại vĩnh cửu khi hòa vào đời sống. Mọi chính sách phải hướng tới công chúng, tới cộng đồng, tới từng gia đình, từng khu phố, thôn bản, trường học, cơ quan, doanh nghiệp”.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, văn hóa ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia. Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tinh thần, văn hóa đang từng bước chuyển hóa thành sức mạnh mềm, thành tài nguyên phát triển và động lực kinh tế mới.

Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, hàng trăm di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, cùng 38 di sản được UNESCO ghi danh. Đây là “vỉa quặng mềm” vô giá để phát triển du lịch văn hóa và công nghiệp di sản.

Nhiều di sản văn hóa đã và đang được bảo tồn, phát triển gắn với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa: Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Quần thể danh thắng Tràng An; di tích Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám; di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình (Huế)… không chỉ là ký ức văn hóa, lịch sử, mà còn là trung tâm văn hóa - di sản, đang tham gia phát triển kinh tế, trở thành sức mạnh mềm quốc gia và là một trong những điểm đến nổi bật trên bản đồ du lịch quốc tế.

Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long cho rằng, giá trị đích thực của di sản có vai trò quan trọng trong việc thu hút, hấp dẫn du khách. Nhiều du khách quan tâm đến du lịch văn hóa, di sản. Khách du lịch di sản văn hóa thường thăm nhiều địa điểm hơn 2 lần, lưu trú lâu hơn 2,5 lần và tiêu nhiều hơn so với các loại hình du lịch truyền thống khác. Do vậy, nguồn tài nguyên di sản càng phong phú, độc đáo, đa dạng càng có sức hấp dẫn và cuốn hút du khách nhiều hơn.

Sức sống của văn hóa Việt Nam hôm nay còn thể hiện ở khả năng hòa nhập với đời sống đương đại mà không đánh mất bản sắc. Nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đang được “làm mới” bằng hơi thở hiện đại để tiếp cận giới trẻ.

Thời gian gần đây, nhiều chương trình nghệ thuật đặc biệt, như: “Tổ quốc trong tim”, “Tự hào là người Việt Nam”; “Âm vang Tổ quốc”… cùng với các chương trình nghệ thuật chính luận tại Lễ kỷ niệm A50, A80 đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc, thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là khán giả trẻ; là tiềm lực quan trọng giúp có thể đẩy mạnh ngành công nghiệp giải trí tại đất nước ta trong thời gian tới.

Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là một trong những điểm đến nổi bật trên bản đồ du lịch quốc tế. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam)

Có thể thấy, công nghiệp văn hóa đã trở thành xu hướng phát triển quan trọng của nhiều quốc gia và công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước bứt phá. Tại Việt Nam, từ Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa năm 2016 đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, tư duy về phát triển văn hóa đã có bước chuyển căn bản: từ chỗ chủ yếu bảo tồn sang kết hợp giữa bảo tồn với phát triển; từ “bao cấp văn hóa” sang “đầu tư cho văn hóa để tạo ra giá trị kinh tế và sức mạnh quốc gia”.

Hiện nay, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đóng góp hơn 4% GDP với khoảng 70.000 cơ sở hoạt động và hơn 2,3 triệu lao động.

Trong giai đoạn 2016 - 2018, 12 ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp doanh thu khoảng 8,081 tỷ USD (tương đương 3,61% GDP); năm 2021, đạt 3,92% GDP; năm 2022 tăng lên 4,04% GDP. Giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp trong giai đoạn 2018 - 2022 ước đạt 44 tỷ USD(2).

Các sản phẩm công nghiệp văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu của công chúng trong nước và công chúng thế giới. Điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, thủ công mỹ nghệ… đang từng bước trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng. Đặc biệt, điện ảnh Việt Nam đang cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ.

Năm 2025, “Mưa Đỏ” trở thành hiện tượng phòng vé khi đạt hơn 710 tỷ đồng doanh thu; cùng với tác phẩm “Địa đạo”, “Tử chiến trên không”… không chỉ thành công về thương mại mà tạo dấu ấn nghệ thuật và khơi dậy niềm tự hào dân tộc.

Điều đáng chú ý là những bộ phim về đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng lại nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của khán giả trẻ. Đó là tín hiệu đáng mừng cho thấy khi các giá trị truyền thống được thể hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, văn hóa dân tộc hoàn toàn có thể chạm tới công chúng đương đại.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn nhận định: “Dấu ấn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa 5 năm qua là rất xuất sắc, biến công nghiệp văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững của đất nước”. Theo ông, sức mạnh của công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở giá trị kinh tế, mà còn ở khả năng lan tỏa bản sắc dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và củng cố sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP. Đây được xem là mục tiêu khả thi nếu Việt Nam biết khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa truyền thống kết hợp với công nghệ số và sáng tạo hiện đại.

Quan trọng hơn, Nghị quyết đã mở ra tư duy mới: chuyển từ “quản lý văn hóa” sang quản trị, “kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo”. Điều đó có nghĩa Nhà nước không chỉ làm nhiệm vụ quản lý, mà còn phải tạo môi trường thuận lợi để văn hóa phát triển như một ngành kinh tế sáng tạo thực thụ.

Trong bối cảnh đó, công nghiệp di sản, điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa hay các nền tảng sáng tạo số sẽ trở thành hướng đi quan trọng để đưa văn hóa Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ hơn ra thế giới. Đồng thời, đây cũng là con đường để biến tài nguyên văn hóa thành sức mạnh phát triển quốc gia.

Tiết mục trong chương trình nghệ thuật “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng”. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Nghị quyết 80-NQ/TW là dấu mốc quan trọng về tư duy và đã tiếp cận toàn diện, hiện đại đối với phát triển văn hóa. Văn hóa được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, thị trường và các ngành công nghiệp văn hoá, coi sản phẩm văn hoá là một nguồn lực phát triển, là thành tố quan trọng của “sức mạnh mềm” quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Đảng ta yêu cầu thúc đẩy phát triển mạnh mẽ công nghiệp văn hóa nhằm chuyển hóa hiệu quả tài nguyên văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia. Tập trung xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy phát triển đất nước bền vững.

Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá; lấy di sản văn hoá là trung tâm và tài nguyên văn hoá số là thế mạnh; phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hoá. Đây là nhiệm vụ, giải pháp gắn với bước chuyển về tư duy chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển đất nước. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa.

 

Đặc biệt chú trọng phát triển các thương hiệu văn hoá chất lượng cao, có sức cạnh tranh, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thương hiệu văn hoá mạnh trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu.

Như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Bản sắc là gốc, hội nhập là cành. Bản sắc giúp ta đứng vững và trường tồn; hội nhập giúp ta nở hoa kết trái và lan tỏa. Bảo tồn và phát triển bổ sung cho nhau trong một thực thể hữu cơ sống động”.

Đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng đã đề ra, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác quốc tế, ngoại giao văn hóa và mở rộng không gian ảnh hưởng quốc gia. Phát huy vai trò của ngoại giao văn hóa như một trụ cột quan trọng trong tổng thể ngoại giao quốc gia. Thực hiện hiệu quả chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam, lấy văn hoá làm nền tảng, trụ cột, lan toả đất nước, con người Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hoá, nhân văn, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào dòng chảy văn minh của nhân loại.

Link gốc