LỜI TÒA SOẠN:
“Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động” – tư tưởng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từ hơn bảy thế kỷ trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc và trí tuệ cha ông; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị và quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định tăng cường đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời là một trong những động lực quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Trên tinh thần đó, Tạp chí Việt Mỹ thực hiện loạt 5 bài viết với chủ đề: "Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động”, với mong muốn lan tỏa và đóng góp ý kiến xây dựng cho đường lối đối ngoại “trong ấm, ngoài êm; nội yên, ngoại tĩnh” của Đảng và Nhà nước ta đang theo đuổi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Loạt bài viết được thực hiện bởi nhóm tác giả bao gồm các nhà khoa học, nhà báo: Tiến sĩ Nguyễn Thắng Cảnh; Thạc sĩ Chính trị học Đào Ngọc Tước và nhà báo Vũ Văn Ninh của Tạp chí Việt - Mỹ.
Trân trọng gửi tới Quý độc giả.
Bài 2: Giữ nước từ sớm, từ xa "trong ấm, ngoài êm", xây dựng Đất nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa hùng cường
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, bài học lớn nhất luôn là dựng nước phải đi đôi với giữ nước; giữ nước phải bắt đầu từ khi nước chưa nguy; bảo vệ Tổ quốc không chỉ bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh và lòng dân.
Đó là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Từ thời cha ông chống giặc ngoại xâm đến thời đại Hồ Chí Minh, từ các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị thời sự sâu sắc.
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi đất nước đặt mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và đối ngoại càng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng: Không có hòa bình, ổn định thì không thể phát triển;không giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì không thể nói đến phồn vinh, hạnh phúc; không chủ động hội nhập, mở rộng quan hệ quốc tế thì không thể tạo thế và lực mới cho đất nước.
Tinh thần định hướng Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện tư duy bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Điểm nổi bật là phải gắn chặt quốc phòng, an ninh với đối ngoại; đặt đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tổng thể sức mạnh quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; không để bị động, bất ngờ trong mọi tinh hung; đồng thi phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại.
Thế giới hiện nay đang biến động nhanh, mạnh và khó lường:Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; Xung đột quân sự, tranh chấp chủ quyền, chạy đua vũ trang, chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin, an ninh mạng, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh lương thực... đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến an ninh của mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam càng phải kiên định đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đồng thời phải đủ bản lĩnh, trí tuệ và năng lực để xử lý linh hoạt các mối quan hệ quốc tế phức tạp.

Việt Nam độc lập, tự chủ, kiên cường đường lối đối ngoại Quốc phòng - An ninh, bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm (Ảnh: Vũ Ninh)
Đối ngoại quốc phòng - an ninh là "phên giậu hòa bình" bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ là chuẩn bị lực lượng khi có chiến tranh, mà quan trọng hơn là chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bất ổn ngay từ khi mới manh nha. Đây là tư duy chiến lược hiện đại, phù hợp với yêu cầu bảo vệ đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Nếu như trước đây, bảo vệ Tổ quốc thường được hiểu chủ yếu là bảo vệ biên giới, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, thì ngày nay nội hàm ấy đã mở rộng hơn nhiều. Bảo vệ Tổ quốc còn là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh văn hóa, an ninh mạng, an ninh con người và môi trường hòa bình để phát triển.
Trong tổng thể đó, đối ngoại Quốc phòng - An ninh giữ vai trò rất quan trọng. Thông qua đối thoại, hợp tác, trao đổi thông tin, xây dựng lòng tin, tham gia các cơ chế đa phương, Việt Nam có thể tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi, giảm nguy cơ va chạm, xung đột, đồng thời nâng cao vị thế của đất nước. Đây chính là "giữ nước bằng hòa bình","giữ nước bằng lòng tin chiến lược", "giữ nước bằng thế trận đối ngoại".
Nói cách khác, đối ngoại quốc phòng - an ninh là tuyến phòng thủ mềm nhưng có sức mạnh rất lớn. Khi quan hệ quốc tế được mở rộng, khi lợi ích của Việt Nam đan xen với lợi ích của nhiều quốc gia, khi Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, thì vị thế bảo vệ Tổ quốc được nâng cao.
Đất nước không đơn độc trước các thách thức - Đó là sức mạnh của thời đại được kết hợp với sức mạnh dân tộc.
Kiên định chính sách quốc phòng "4 không" - bản lĩnh độc lập, tự chủ của Việt Nam
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong chính sách quốc phòng của Việt Nam là "4 không":Không tham gia liên minh quân sự; Không liên kết với nước này để chống nước khác; Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.Đây là thông điệp hòa bình, tự vệ và nhất quán của Việt Nam.
Chính sách "4 không" không phải là sự né tránh trách nhiệm quốc tế, càng không phải là biểu hiện của thái độ trung lập thụ động.Trái lại, đó là bản lĩnh chính trị của một quốc gia độc lập, tự chủ, biết đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.
Trong bối cảnh thế giới phân cực, cạnh tranh nước lớn gay gắt, nếu không giữ vững độc lập tự chủ, một quốc gia rất dễ bị lôi kéo vào các vòng xoáy đối đầu, xung đột hoặc trở thành bàn cờ cho lợi ích của nước khác.
Việt Nam không chọn phe mà chọn chính nghĩa, hòa bình, luật pháp quốc tế và lợi ích dân tộc. Việt Nam không liên minh quân sự để chống nước khác, nhưng Việt Nam sẵn sàng mở rộng hợp tác quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi. Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình, nhưng Việt Nam vẫn hợp tác quốc phòng, giao lưu hải quân, trao đổi đoàn, đào tạo cán bộ, tham gia diễn tập nhân đạo, cứu hộ cứu nạn, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Điều đó cho thấy chính sách "4 không" vừa kiên định nguyên tắc, vừa linh hoạt về sách lược:Kiên định để không đánh mất độc lập tự chủ, Linh hoạt để không tự cô lập mình;Kiên định để giữ vững chủ quyền, Linh hoạt để mở rộng hợp tác, tạo thế, tạo lực cho đất nước.
Trong bối cảnh và tình hình mới, chính sách "4 không" cần được hiểu đầy đủ hơn trong mối quan hệ với yêu cầu nâng cao năng lực tự vệ chính đáng của đất nước.
Một nền quốc phòng hòa bình không có nghĩa là yếu mềm; một đất nước yêu chuộng hòa bình càng phải có đủ sức mạnh để bảo vệ hòa bình. Do đó, Việt Nam phải tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận An ninh Nhân dân; xây dựng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ, lưỡng dụng.

Việt Nam kiên định đường lối Quốc phòng - An ninh, thực hiện chính sách "4 không" (Ảnh: Vũ Ninh)
Chủ động, linh hoạt đối ngoại để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định
Đại hội XIV định hướng tiếp tục phát huy vai trò của đối ngoại và hội nhập quốc tế như một trụ cột quan trọng trong bảo vệ và phát triển đất nước.
Một số phân tích về dự thảo văn kiện nhấn mạnh điểm mới là đối ngoại, hội nhập quốc tế được đặt ngang hàng với quốc phòng, an ninh, trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng.
Trong thời đại toàn cầu hóa, bảo vệ Tổ quốc không thể chỉ dựa vào sức mạnh bên trong, mà phải biết tranh thủ nguồn lực bên ngoài; không thể chỉ phòng thủ trên lãnh thổ, mà phải chủ động kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi; không thể chỉ ứng phó khi có nguy cơ, mà phải dự báo, ngăn ngừa, xử lý từ sớm.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng, ASEAN, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước châu Phi, Mỹ Latin và nhiều tổ chức quốc tế. Mạng lưới quan hệ đó tạo nên thế đối ngoại rộng mở, đa tầng, đa phương, đa lĩnh vực.
Đặc biệt, trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh,Việt Nam đã tăng cường hợp tác với nhiều nước thông qua đối thoại chính sách quốc phòng, trao đổi đoàn, hợp tác đào tạo, quân y, công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng, phòng chống khủng bố, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, cứu hộ cứu nạn, gìn giữ hòa bình.
Đây là những hoạt động vừa góp phần nâng cao năng lực thực chất của lực lượng Vũ trang Nhân dân, vừa tăng cường lòng tin, giảm nguy cơ hiểu lầm, va chạm.
Chủ động và linh hoạt trong đối ngoại không có nghĩa là thỏa hiệp về nguyên tắc. Ngược lại, càng hội nhập sâu rộng càng phải giữ vững nguyên tắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nghệ thuật đối ngoại Việt Nam là"dĩ bất biến ứng vạn biến": cái bất biến là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, lợi ích của nhân dân; cái vạn biến là phương thức, sách lược, bước đi phù hợp với từng hoàn cảnh.

Việt Nam mong muốn trở thành người bạn tuyệt vời, trách nhiệm, tin cậy của toàn thế giới, lấy phương châm "dĩ nhất biến, ứng vạn biến" làm kim chỉ nam (Ảnh: Vũ Ninh)
Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là chủ quyền biển đảo
Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đối với Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ sống còn, là lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.
Trong tình hình hiện nay, Biển Đông tiếp tục là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, đồng thời tiềm ẩn nhiều nhân tố phức tạp. Tranh chấp chủ quyền, cạnh tranh ảnh hưởng, hoạt động quân sự hóa, vi phạm vùng biển, vùng trời, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa... đều là những vấn đề đòi hỏi Việt Nam phải xử lý tỉnh táo, kiên quyết, kiên trì.
Quan điểm đúng đắn là kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; đồng thời kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Kiên quyết nhưng không nóng vội; kiên trì nhưng không nhân nhượng về nguyên tắc; đấu tranh nhưng luôn giữ hòa bình, ổn định để phát triển.
Đối ngoại quốc phòng - an ninh trong vấn đề biển đảo phải làm tốt cả ba mặt: đấu tranh pháp lý, đấu tranh ngoại giao và xây dựng thực lực quốc phòng - an ninh trên biển.
Trong đó, ngoại giao góp phần tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với lập trường chính nghĩa của Việt Nam; quốc phòng bảo đảm năng lực tự vệ; an ninh bảo đảm trật tự, an toàn, bảo vệ ngư dân, bảo vệ hoạt động kinh tế biển.
Bảo vệ biển đảo không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư, biên phòng, mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của các địa phương ven biển, doanh nghiệp biển và mỗi người dân.
Mỗi con tàu vươn khơi, mỗi ngư dân bám biển, mỗi công trình kinh tế biển được xây dựng vững chắc cũng là một cột mốc sống khẳng định chủ quyền quốc gia.

Đường lối đối ngoại Quốc phòng - An ninh Quốc phòng của Việt Nam nhất quán quan điểm kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (Ảnh: Vũ Ninh)
Gìn giữ hòa bình thế giới -Biểu tượng sinh động của ViệtNam hội nhập, trách nhiệm
Một trong những thành tựu nổi bật của đối ngoại quốc phòng Việt Nam là tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Từ chỗ chủ yếu nhận được sự ủng hộ quốc tế trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam ngày nay đã trở thành quốc gia chủ động đóng góp cho hòa bình, an ninh và ổn định của thế giới.
Hình ảnh sĩ quan, bác sĩ, chiến sĩ công binh, quân y Việt Nam tại các phái bộ gìn giữ hòa bình là hình ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Đó là những con người mang theo truyền thống nhân ái, yêu chuộng hòa bình, kỷ luật, trách nhiệm và bản lĩnh củaQuân đội nhân dân Việt Nam.
Hoạt động gìn giữ hòa bình không chỉ có ý nghĩa đối ngoại, mà còn có ý nghĩa xây dựng lực lượng. Thông qua môi trường quốc tế, cán bộ, chiến sĩ Việt Nam được rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, khả năng phối hợp đa quốc gia, kinh nghiệm xử lý tình huống phức tạp. Đây là nguồn lực quý để xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Cùng với quân đội, lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam cũng từng bước tham gia các cơ chế hợp tác quốc tế, đóng góp vào phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, chống khủng bố, bảo vệ an ninh con người.
Điều đó cho thấy quốc phòng và an ninh của Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn, thực chất hơn, có trách nhiệm hơn.

Việt Nam tích cực hợp tác, tham gia có trách nhiệm trong vai trò kiến tạo hòa bình cho thế giới (Ảnh: Vũ Ninh)
Hợp tác an ninh: chống gián điệp, khủng bố, tội phạm quốc tế và bảo vệ an ninh mạng
Trong thời đại mới, an ninh quốc gia không chỉ bị đe dọa bởi các hình thức chiến tranh truyền thống, mà còn bị đe doạ bởi nhiều loại hình chiến tranh, an ninh phi truyền thống. Tội phạm mạng, lừa đảo xuyên biên giới, rửa tiền, buôn bán ma túy, mua bán người, khủng bố, gián điệp công nghệ, đánh cắp dữ liệu, tấn công hạ tầng số... đang trở thành thách thức nghiêm trọng.
Do đó, tăng cường hợp tác an ninh quốc tế là yêu cầu khách quan. Không một quốc gia nào có thể một mình giải quyết hiệu quả các loại tội phạm xuyên quốc gia. Việt Nam cần tiếp tục mở rộng trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, đào tạo cán bộ, chia sẻ kinh nghiệm, xây dựng cơ chế phản ứng nhanh với các đối tác quốc tế.
Đặc biệt, an ninh mạng phải được xem là một mặt trận trọng yếu. Không gian mạng vừa là môi trường phát triển kinh tế số, chính phủ số, xã hội số, vừa là nơi các thế lực thù địch, tội phạm công nghệ cao lợi dụng để chống phá, lừa đảo, gây rối, thao túng thông tin, kích động chia rẽ xã hội. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là bộ phận không thể tách rời của bảo vệ Tổ quốc.
Lực lượng công an, quân đội, ngoại giao, thông tin - truyền thông, khoa học - công nghệ cần phối hợp chặt chẽ để xây dựng "lá chắn số" cho đất nước. Muốn vậy, phải đầu tư nhân lực chất lượng cao, công nghệ hiện đại, cơ sở dữ liệu an toàn, năng lực dự báo và phản ứng nhanh. Đây là yêu cầu mới của quốc phòng - an ninh trong kỷ nguyên số.
Phát triển khoa học - công nghệ quốc phòng, công nghiệp quốc phòng tự chủ, hiện đại
Một đất nước muốn giữ vững độc lập, tự chủ thì không thể phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài về vũ khí, trang bị, công nghệ quốc phòng - an ninh.
Trong chiến tranh hiện đại, ưu thế không chỉ thuộc về số lượng quân số mà còn thuộc về công nghệ, trí tuệ, khả năng chỉ huy, kiểm soát, thông tin, trinh sát, tác chiến điện tử, không gian mạng, vũ khí chính xác cao và hệ thống không người lái.
Vì vậy, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, tự chủ, lưỡng dụng là yêu cầu chiến lược. Công nghiệp quốc phòng không chỉ phục vụ nhiệm vụ quân sự, mà còn có thể đóng góp cho công nghiệp dân dụng, phát triển kinh tế, đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là xu hướng phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ quốc phòng trên cơ sở chọn lọc, hiệu quả, bảo đảm giữ vững bí mật quốc gia và lợi ích chiến lược. Hợp tác để học hỏi, tiếp thu công nghệ, đào tạo nhân lực, nhưng mục tiêu cuối cùng phải là làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực tự nghiên cứu, tự thiết kế, tự sản xuất, tự bảo dưỡng, tự nâng cấp.
Đây cũng là biểu hiện sinh động của tinh thần tự lực, tự cường dân tộc trong thời kỳ mới. Một quốc gia muốn vươn mình hùng cường phải có nền khoa học - công nghệ mạnh, có công nghiệp quốc phòng đủ sức bảo vệ thành quả phát triển.

Xây dựng nền Khoa học - Công nghệ Quốc phòng, An ninh từng bước hiện đại, vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc (Ảnh: Vũ Ninh)
Xây dựng Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại
Đại hội XIV định hướng tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, trong đó Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân phải thật sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Đối với Quân đội Nhân dân, yêu cầu hàng đầu là vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Quân đội phải là lực lượng nòng cốt trong bảo vệTổ quốc, có khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, xử lý hiệu quả các tình huống trên bộ, trên biển, trên không, trên không gian mạng và các địa bàn chiến lược.
Đối với Công an Nhân dân, nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ bình yên cuộc sống của nhân dân.
Trong tình hình mới, công an phải nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, phát hiện, xử lý các nguy cơ từ sớm, từ xa; không để hình thành điểm nóng, không để bị động, bất ngờ.
Xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ không chỉ là trang bị vũ khí hiện đại, mà còn là xây dựng con người hiện đại: có bản lĩnh chính trị, kỷ luật nghiêm, đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn cao, năng lực công nghệ, ngoại ngữ, pháp luật và khả năng hội nhập quốc tế.
Lực lượng vũ trang càng hiện đại càng phải gắn bó máu thịt với nhân dân. Sức mạnh của quân đội và công an không chỉ nằm ở vũ khí, mà trước hết nằm ở thế trận lòng dân, ở niềm tin của nhân dân, ở bản chất "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu".

Xây dựng lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, sẵn sàng đối phó mọi thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ Tổ quốc; giữ gìn an ninh - trật tự, vì hạnh phúc của Nhân dân (Ảnh: Vũ Ninh)
Xây dựng "thế trận lòng dân" – nền tảng bền vững nhất của Quốc phòng - An ninh
Mọi chiến lược bảo vệ Tổ quốc cuối cùng đều quy tụ về sức mạnh chính nghĩa của Nhân dân. Lịch sử Việt Nam chứng minh: khi lòng dân thuận, đất nước có sức mạnh vô địch; khi nhân dân tin Đảng, tin chế độ, đoàn kết một lòng thì không thế lực nào có thể khuất phục được dân tộc Việt Nam.
"Thế trận lòng dân" là nền tảng của quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đó là niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ; là sự đồng thuận xã hội; là tinh thần yêu nước; là trách nhiệm công dân; là ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Muốn xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, phải chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh;phát huy dân chủ, kỷ cương, đoàn kết; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Đồng thời, phải làm tốt công tác giáo dục quốc phòng - an ninh, nhất là cho thế hệ trẻ.
Thanh niên cần hiểu lịch sử dân tộc, hiểu giá trị của độc lập, tự do, hiểu âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, hiểu trách nhiệm của mình trong bảo vệ Tổ quốc.
Trong kỷ nguyên số, yêu nước không chỉ là cầm súng nơi biên cương, mà còn là tỉnh táo trên không gian mạng, không chia sẻ thông tin sai trái, không để bị kích động, lôi kéo, góp phần bảo vệ sự ổn định của đất nước.

Xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc để bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc (Ảnh: Vũ Ninh)
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng Việt Nam hùng cường
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là bài học lớn của cách mạng Việt Nam.
Sức mạnh dân tộc là truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết, văn hóa nhân nghĩa, bản lĩnh kiên cường. Sức mạnh thời đại là xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển; là khoa học - công nghệ; là hội nhập quốc tế; là sự ủng hộ của bạn bè tiến bộ trên thế giới.
Trong giai đoạn mới, phải kết hợp hai nguồn sức mạnh ấy để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đối ngoại Quốc phòng - An ninh chính là một kênh quan trọng để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Thông qua hợp tác quốc tế, Việt Nam tranh thủ được tri thức, công nghệ, kinh nghiệm, nguồn lực, sự ủng hộ chính trị và pháp lý của cộng đồng quốc tế; đồng thời đóng góp trách nhiệm vào hòa bình, ổn định chung.Đây cũng là cách để nâng cao vị thế quốc gia.
Một đất nước Việt Nam hùng cường không chỉ là đất nước có kinh tế phát triển, mà còn có nền tảng quốc phòng - an ninh vững chắc, đối ngoại bản lĩnh, văn hóa giàu bản sắc, nhân dân đoàn kết, chính trị ổn định và uy tín quốc tế cao.
Đối ngoại Quốc phòng - An ninh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Đó là sự kết hợp giữa truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông với tư duy hiện đại về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; là sự gắn kết giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và sức mạnh lòng dân.
Theo tinh thần định hướng của Đại hội XIV, ViệtNam cần tiếp tục kiên định đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển;kiên trì chính sách quốc phòng "4 không";chủ động, linh hoạt trong đối ngoại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng Quân đội Nhân dân vàCông an Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ; mở rộng hợp tác quốc tế; đấu tranh hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Giữ vững hòa bình không phải là mục tiêu thụđộng, mà là kết quả của bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh và nghệ thuật chiến lược. Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ biên giới, biển đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, bảo vệ tương lai hùng cường của dân tộc.
Với đường lối đúng đắn của Đảng, sự đồng lòng của nhân dân, sức mạnh của lực lượng vũ trang, vị thế quốc tế ngày càng cao và khát vọng phát triển mãnh liệt, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để vững bước trong kỷ nguyên mới:Kỷ nguyên độc lập, tự cường, hội nhập, phát triển và vươn mình trở thành nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
bình luận (0)