Tháng 11/2021: Nhiều chính sách bắt đầu hiệu lực

01/11/2021 14:07:00 Bảo Linh
Trong tháng 11/2021 này, sẽ có nhiều chính sách bắt đầu có hiệu lực. Trong đó có liên quan đến việc giảm thuế GTGT, chi trả bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động,...

Hạn cuối nhận tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 116

Từ tháng 11 sẽ chi trả tiền hỗ trợ đối với người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp mà có đóng bảo hiểm thất nghiệp theo gói hỗ trợ 30.000 tỉ đồng từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Nghị quyết 116.

Theo hướng dẫn tại Quyết định 28, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp không cần trực tiếp làm thủ tục hưởng mà sẽ do cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) và người sử dụng lao động phối hợp thực hiện.

Ngày 20/10 là hạn cuối để cơ quan BHXH gửi danh sách người lao động đủ điều kiện hưởng cho doanh nghiệp để kiểm tra, đối chiếu thông tin. Sau đó, người sử dụng lao động sẽ tổng hợp lại danh sách những người đã đúng thông tin và những người cần điều chỉnh thông tin với hạn chót là ngày 10/11 phải gửi lại cho cơ quan BHXH.

Những người lao động đúng thông tin sẽ được trả tiền hỗ trợ trong tối đa 10 ngày từ ngày doanh nghiệp gửi lại danh sách cho cơ quan BHXH. Những người có sai sót về thông tin thì thời gian nhận hỗ trợ khoảng 20 ngày.

Như vậy chậm nhất là tới 30/11, mọi người lao động làm việc tại doanh nghiệp sẽ được chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 116.

Sau ngày 30/11, người lao động chưa nhận được hỗ trợ thì phải tự làm thủ tục theo quy định như thông qua ứng dụng VssID, qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam, qua dịch vụ bưu chính hoặc đến trực tiếp tại cơ quan BHXH cấp tỉnh hoặc cấp huyện.

Giảm thuế giá trị gia tăng đối với nhiều hàng hóa, dịch vụ

Nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân chịu ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới đây đã ban hành Nghị quyết 406/NQ-UBTVQH15 ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 về giảm nhiều loại thuế, trong đó có thuế giá trị gia tăng.

Theo đó, kể từ ngày 1/11/2021 đến hết ngày 31/12/2021, giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các hàng hóa, dịch vụ sau đây:

(1) Dịch vụ vận tải gồm vận tải đường sắt, vận tải đường thủy, vận tải hàng không, vận tải đường bộ khác; dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quàng bá và tồ chức tua du lịch;

(2) Sản phẩm và dịch vụ xuất bản; dịch vụ điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; tác phẩm nghệ thuật và dịch vụ sáng tác, nghệ thuật, giải trí; dịch vụ của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; dịch vụ thể thao, vui chơi và giải trí.

Lưu ý: Hàng hóa, dịch vụ trong nhóm (2) không bao gồm phần mềm xuất bản và các hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh theo hình thức trực tuyến.

Tùy thuộc vào phương pháp tính thuế, mức giảm thuế giá trị gia tăng được áp dụng như sau: Doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng; doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng.

Hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp với cơ sở thực hiện xã hội hóa chưa truy thu

Từ ngày 1/11/2021, Thông tư 71/2021/TT-BTC hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa chưa truy thu theo Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 25/5/2014, có hiệu lực thi hành.

Cơ sở thực hiện xã hội hóa (gọi tắt là Cơ sở) thành lập trước ngày 22/07/2016, có thu nhập từ hoạt động xã hội hóa, có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

(1) Cơ sở được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho thời gian còn lại theo quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp kể từ khi đáp ứng đủ điều kiện theo các quyết định của Thủ tướng trong từng thời kỳ bao gồm:

+ Quyết định 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008.

+ Quyết định 693/QĐ-TTg ngày 06/5/2013.

+ Quyết định 1470/QĐ-TTg ngày 22/7/2016.

(2) Cơ sở không đáp ứng các điều kiện theo quy định tại các Quyết định trên thì thực hiện kê khai bổ sung số thuế thu nhập doanh nghiệp còn thiếu (nếu có), tự tính số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hoặc cơ quan thuế thực hiện truy thu đến thời điểm đáp ứng điều kiện tại các Quyết định nêu trên.

Cơ sở trên nếu có thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh tại mục (2) thì không bị phạt vi phạm pháp luật về thuế và không tính tiền chậm nộp tính trên số tiền thu nhập doanh nghiệp tạm thời chưa truy thu cho đến 1/11/2021.

Từ ngày 2/11/2021, Cơ sở chưa nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm thời chưa thu thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế chưa nộp và xử phạt vi phạm pháp luật về thuế (nếu có).

Thủ tục cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp FDI

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 15/2021/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2021 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Thông tư bổ sung khoản 1b vào sau khoản 1a Điều 15 về thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; Giấy phép xuất khẩu vàng nguyên liệu; Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (đầu tư nước ngoài), doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực khai thác vàng: Đối với trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ đề nghị cấp phép theo cơ chế một cửa quốc gia thì gửi hồ sơ theo quy định tại Điều 12 Thông tư này đến Cổng thông tin một cửa quốc gia để được cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng bổ sung Khoản 5 vào Điều 15 hướng dẫn thực hiện thủ tục cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ theo cơ chế một cửa quốc gia.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 20/11/2021.

Bảo vệ việc làm cho người lao động là người tố cáo

Thông tư 09/2021/TT-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 08/2020/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn về bảo vệ việc làm của người tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động chính thức có hiệu lực từ ngày 1/11/2021.

Theo Thông tư này, trường hợp doanh nghiệp không chấp hành biện pháp bảo vệ việc làm cho người lao động, thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có ý kiến bằng văn bản với doanh nghiệp, đồng thời báo ngay sự việc với cơ quan liên quan để kịp thời xử lý và có biện pháp bảo vệ việc làm cho người lao đông. Thông tư mới này đã không còn quy định Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải báo cáo với công đoàn cấp trên trực tiếp.

Quy định mới về tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo

Đây là nội dung được nêu trong Thông tư 04 của Thanh tra Chính phủ về quy trình tiếp công dân được áp dụng từ ngày 15/11/2021.

Thông tư 04 chỉ rõ, sẽ từ chối tiếp công dân và giải thích lý do từ chối, đồng thời báo cáo với người phụ trách nếu đó là: Người say rượu, bia; Người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi; Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có các hành vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân.

Thông tư 05 của Thanh tra Chính phủ cũng có hiệu lực từ 15/11, bổ sung quy định đơn thư khiếu nại tố cáo bằng tiếng nước ngoài kèm theo bản dịch được công chứng sẽ được tiếp nhận xử lý (trước đây chỉ tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo được viết bằng tiếng Việt).

Bảo Linh